
Đừng lo lắng về tương lai của toàn cầu hóa. Hãy chắc chắn rằng bạn có một vị trí trong đó.
Đưa Châu Á đi đúng hướng
Hội nhập thương mại khu vực đã và đang được tăng cường trong hơn một thập kỷ qua. Tại Bắc Mỹ, Donald Trump đã ký thỏa thuận Hoa Kỳ-Mexico-Canada (USMCA) giữ cho kim ngạch thương mại Hoa Kỳ-Canada và Hoa Kỳ-Mexico trụ vững ở mức hơn 600 tỷ USD trong năm 2019, tương đương với kim ngạch thương mại Hoa Kỳ-Trung Quốc. Nhưng khi Mỹ và Trung Quốc tìm cách tách rời nhau ra, thương mại giữa các quốc gia Bắc Mỹ chắc chắn sẽ tăng hơn nữa, và điều này sẽ gây bất lợi cho Trung Quốc.
Cùng lúc đó, kim ngạch thương mại Trung Quốc-ASEAN hiện đã vượt quá kim ngạch thương mại của Trung Quốc với cả EU và Hoa Kỳ cộng lại, và mối quan hệ phát triển này đang giúp các nền kinh tế Đông Nam Á phục hồi sau ảnh hưởng của đại dịch, làm chúng ta nhớ đến các chính sách “thu hoạch sớm” sau cuộc khủng hoảng châu Á năm 1998 mà khu vực này ủng hộ. Về mặt này, hiện tượng “phụ thuộc vào Trung Quốc” mà nhiều nhà bình luận lên án là một dấu hiệu của sự phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu sang Trung Quốc dường như không phải là một điều xấu.
Có một con đường hai chiều lành mạnh giữa cấp khu vực và toàn cầu. Thật vậy, hội nhập khu vực củng cố toàn cầu hóa theo cùng những cách mà các cơ quan ngoại giao khu vực cần thiết cho “quản trị toàn cầu”. (Các chuẩn mực toàn cầu về quyền con người hoặc quyền riêng tư dữ liệu sẽ mạnh đến mức nào nếu EU không thúc đẩy và thực thi chúng?)
Ở châu Á, sự phân công lao động lâu đời giữa 5 nhà xuất khẩu chính của Đông Á - Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc - chiếm hơn 4 nghìn tỷ USD kim ngạch xuất khẩu hàng năm, gần bằng EU và Bắc Mỹ kết hợp lại. Không phải một quốc gia riêng lẻ nào cả, mà chính sự phối hợp của những trung tâm sản xuất năng động này mới là lý do tại sao châu Á trở thành công xưởng của thế giới.
Bằng việc ký kết hiệp định thương mại RCEP, hiệp định bao trùm hơn 1/3 dân số thế giới và 1/3 GDP toàn cầu, châu Á đang trên đường có được nhiều chuỗi sản xuất kết nối toàn cầu - đặc biệt khi có được sự tham gia của các trung tâm sản xuất có mức lương thấp như ở Đông Nam Á. Tự do hóa đầu tư và thương mại gia tăng là điều đã đưa các quốc gia như Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu, với các công ty đa quốc gia từ Nhật Bản, Mỹ và Châu Âu đổ vốn vào. Không có gì lạ khi nhiều người ở châu Á nói rằng bên chiến thắng trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung là Việt Nam.
Ngành sản xuất và công nghệ của Ấn Độ cũng hưởng lợi khi các chuỗi cung ứng toàn cầu rời khỏi Trung Quốc. Apple và Samsung Electronics đã khuyến khích các công ty điện tử đầu tư vào các nhà máy ở Ấn Độ, và Reliance Jio dễ dàng huy động được 20 tỷ USD vốn mới, bao gồm 10% cổ phần do Facebook nắm giữ. Tata Consultancy Services, công ty gần đây đã vượt qua Accenture để trở thành công ty dịch vụ công nghệ thông tin có giá trị nhất thế giới, đang tăng cường tuyển dụng do nhu cầu làm việc từ xa và số hóa của doanh nghiệp ngày càng tăng.
Cần lưu ý rằng Ấn Độ không chính thức tham gia RCEP, nhưng chính sách “Hướng Đông” của nước này hướng tới cắt giảm thâm hụt thương mại của Ấn Độ với Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN. Nippon Steel của Nhật Bản và ArcelorMittal của Ấn Độ đang lên kế hoạch hợp tác công nghiệp chặt chẽ hơn, trong bối cảnh giá thép sụt giảm như hiện nay, nhưng cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ Trung Quốc.
Chính quyền Biden có thể mong muốn Hoa Kỳ quay trở lại hiệp định thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (nay đã được đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) - mặc dù có những rào cản đáng kể, chẳng hạn như lập trường bảo hộ của Đảng Dân chủ và những lỗ hỏng của hiệp định này trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ và ngăn chặn việc nội địa hóa dữ liệu. Cho dù vậy, tập đoàn Mỹ vẫn sẽ tiếp tục chuyển hướng sang châu Á để cạnh tranh với các gã khổng lồ của Trung Quốc, châu Âu và của nước bản địa. Đầu tư của Hoa Kỳ vào ASEAN đã lớn hơn so với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ cộng lại - và khoảng cách sẽ ngày càng mở rộng ngay cả khi Mỹ không bao giờ gia nhập CPTPP. Một số người gọi đây là chiến lược “Trung Quốc cộng một”, nghĩa là thêm một quốc gia khác ngoài Trung Quốc vào dây chuyền sản xuất tại châu Á. Một phương châm đơn giản hơn mà các công ty đa quốc gia nên áp dụng là: “sản xuất tại nơi tiêu thụ”.
Từ hàng tỷ đến nghìn tỷ
Nhưng hãy nhớ rằng trong khi đơn vị tính của thương mại thường là tỷ USD, đơn vị tính của tài chính là nghìn tỷ USD. Và giữa phương Tây và phương Đông, dòng chảy tài chính vẫn diễn ra, bất chấp các căng thẳng. Nếu thương mại ngày càng trở thành chiến trường giữa các nền kinh tế hàng đầu thế giới, thì trong lĩnh vực tài chính, không có bằng chứng nào cho thấy các nước lớn đang cắt đứt mối quan hệ.
Điều này đặc biệt đúng ở Trung Quốc. Ngay cả trước khi có thỏa thuận giai đoạn 1 giữa Mỹ và Trung Quốc từ một năm trước, các ngân hàng phương Tây đã tăng cường kiểm soát hoạt động môi giới và bảo hiểm tại Trung Quốc của họ. Cùng với thỏa thuận đầu tư giữa EU và Trung Quốc, Trung Quốc tiếp tục đưa ra các ưu đãi để thu hút vốn nước ngoài vào lĩnh vực tài chính của mình. Chưa dừng lại ở đó, việc Trung Quốc tự do hóa tài khoản vốn để cho phép dòng tài chính ra vào tự do hơn sẽ thu hút hàng nghìn tỷ đô la vào thị trường trái phiếu và cổ phiếu của nước này. Trái phiếu nhân dân tệ kỳ hạn 10 năm chào lợi suất cao hơn 250 điểm cơ bản so với trái phiếu của Kho bạc Hoa Kỳ.
Mặc dù các nhà đầu tư nước ngoài chỉ nắm giữ 2,4% thị trường trái phiếu trị giá 14 nghìn tỷ USD của Trung Quốc và hơn 3% thị trường chứng khoán trị giá 12 nghìn tỷ USD của nước này, một số yếu tố đã thúc đẩy dòng vốn từ nước ngoài vào thị trường trái phiếu Trung Quốc tăng mạnh trong 12 tháng qua. Theo Ming Leap của HSBC Global Asset Management, các yếu tố này bao gồm chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ của Trung Quốc, mức định giá hấp dẫn của trái phiếu Trung Quốc, việc trái phiếu Trung Quốc được đưa vào các chỉ số lớn về trái phiếu toàn cầu, và nhu cầu đa dạng hóa của các nhà đầu tư toàn cầu,
Giai đoạn cuối của quá trình toàn cầu hóa được đặc trưng bởi hiện tượng dòng tiền tiết kiệm của người châu Á “chảy ngược lên thượng nguồn” sang các tài sản có tỷ suất sinh lợi thấp hơn nhưng an toàn hơn ở phương Tây. Giờ đây, dòng vốn sẽ chảy theo hướng mà lẽ ra nó nên hướng tới: đó là chảy vào một châu Á năng động và tăng trưởng cao.
Nhưng khi dòng vốn gián tiếp bị rút mạnh khỏi châu Á như những gì đã được chứng kiến trong đại dịch, châu lục mới nổi này sẽ cần phải thực hiện một làn sóng tư nhân hóa mới để phù hợp với cơ hội của Trung Quốc. Từ Pakistan và Ấn Độ qua Indonesia, Việt Nam và Philippines, các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng, vận tải, hàng không, xây dựng, nông nghiệp, khách sạn và các lĩnh vực khác nên cổ phần hóa và tham gia nhiều hơn vào các liên doanh với đối tác nước ngoài để huy động vốn và huy động vốn và cơ cấu lại doanh nghiệp.
Điều này cũng sẽ khắc phục một trong những điểm yếu của châu Á trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài: tỷ trọng doanh nghiệp niêm yết trên sàn của khu vực này là quá thấp. Các thị trường chứng khoán của khu vực đã tăng trưởng tốt hơn trong năm 2020, nhưng tỷ lệ vốn hóa thị trường sẽ còn cao hơn nhiều nếu có thêm nhiều doanh nghiệp niêm yết, mở ra cơ hội sở hữu cổ phần cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Còn tiếp
Nguồn: Asia Nikkei
Từ khóa: toàn cầu hóa, thúc đẩy dòng vốn từ nước ngoài, hỗ trợ tài khóa, làn sóng tư nhân hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp
Các tin khác
- Xu thế nào cho ngành logistics trong tương lai? - 18/01/2021
- Cơ hội phát triển chuỗi giá trị nông sản Việt ra thế giới thông qua Hiệp định RCEP - 18/01/2021
- Cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn là tâm điểm của 2021 - 18/01/2021
- Xuất khẩu có còn cửa sáng? - 15/01/2021
- Lạc quan thận trọng với triển vọng thương mại toàn cầu năm 2021 - 15/01/2021






















