JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếĐại dịch sẽ định hình lại toàn cầu hóa

Đại dịch sẽ định hình lại toàn cầu hóa

Dịch bệnh đang đẩy nhanh những xu thế của hiện tại. Về vấn đề toàn cầu hóa, đại dịch không đảo ngược nhưng đang định hình lại xu hướng này. Trong bài viết dưới đây, các tác giả sẽ quan sát hoạt động thương mại toàn cầu trong bối cảnh đại dịch có sự liên hệ với những xu hướng trước đây, qua đó đưa ra đánh giá về cách thức phản ứng của nhà quản lý chuỗi giá trị và chính khách tại nhiều quốc gia.

Những đánh giá ban đầu về giao thương toàn cầu trong đại dịch

Thương mại thế giới đã chứng kiến sự suy giảm nhanh chóng trong những tháng đầu đại dịch khởi phát. Các biện pháp khuyến nghị phong tỏa hay phong tỏa bắt buộc đã gây đứt gãy hoạt động kinh tế; tuy nhiên đến giai đoạn cuối năm, hoạt động giao thương đã có sự phục hồi trở lại.

Dự báo mới nhất của WTO nhận định hoạt động giao thương thế giới sẽ suy giảm 9.2% năm 2020 trước khi tăng trở lại ở mức 7.2% một năm sau đó. Thương mại hàng hóa vẫn duy trì trạng thái tốt theo như biểu đồ dưới dây:

C3

Thương mại dịch vụ chịu mức suy giảm nặng nề hơn so với thương mại hàng hóa, theo đó mức suy giảm là 30% trong quý II và 18% đến tháng 9 năm 2020. Điều này trái ngược với đợt suy thoái toàn cầu trước đây khi đối tượng chịu thiệt hại nặng lại là giao thương hàng hóa. Cuộc khủng hoảng lần này có tính chất khác biệt. Sự sụt giảm lớn của hoạt động thương mại dịch vụ có liên quan trực tiếp đến yêu cầu giãn cách xã hội và hạn chế đi lại – vốn sẽ gây những tổn thương cho việc cung ứng sản phẩm do yêu của ngành cần phải có tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Không còn nhiều lựa chọn trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt đối với những ngành có yêu cầu dịch chuyển nhiều, người tiêu dùng có nhiều tiền hơn để dùng mua sản phẩm tiêu dùng. Điều này giải thích cho việc thương mại hàng hóa suy giảm không đáng kể trong nửa đầu năm 2020.

Tất cả quốc gia trên toàn cầu đều bị ảnh hưởng bởi suy thoái thương mại nhưng ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh trường hợp đặc biệt của Trung Quốc – đất nước đã dự trữ một lượng lớn hàng hóa, suy giảm giao thương tại châu Á diễn ra với cấp độ thấp hơn so với phần còn lại của thế giới. Chính sách tài chính và tiền tệ nghịch chu kỳ tại những khu vực khác đã giúp châu Á duy trì mức độ tiêu thụ ở mức cao trong thời điểm đại dịch, theo đó các quốc gia châu Á vốn là những nhà sản xuất và xuất khẩu lớn về hàng hóa, do vậy nhu cầu về xuất nhập khẩu vẫn lớn trong thời gian đại dịch bùng phát, bao gồm các sản phẩm về điện tử và y tế.

Tháng tư vừa rồi, chúng ta đã chứng kiến “cơn bão khủng khiếp” gây ra bởi COVID-19 tác động đến các nền kinh tế đang phát triển. Bên cạnh cú sốc từ COVID-19, chúng ta còn chứng kiến những cơn chấn động khác từ bên ngoài (tài chính, ngoại hối, du dịch và dự trữ hàng hóa). Cú sốc tài chính vào tháng 3 có thể được khắc phục một phần bởi các chính sách do ngân hàng trung ương các quốc gia đã và đang phát triển ban hành. Bên cạnh đó, ngoại hối và du lịch cũng chịu sự sụt giảm tương tự.

Đối với những hàng hóa thiết yếu, chúng ta lại có những số liệu đa sắc hơn, theo đó giá loại sản phẩm này (ngoài kim loại) giảm ở các mức độ khác nhau trong quý II năm 2020. Giảm nhiều nhất diễn ra trong nhóm nhiên liệu, với mức suy giảm khoảng 50%/năm, dù đã phục hồi nhẹ ở những quý sau. Giá thực phẩm cũng chứng kiến mức giảm 3% cùng giai đoạn trong khi đó, giá cả sản phẩm nông nghiệp cũng giảm 13%. Ở chiều ngược lai, sản phẩm kim loại lại có mức tăng 6% cùng thời điểm.

C3.1

Với việc mở cửa một phần các nền kinh tế vào nửa cuối năm, giá nhiên liệu đã tăng trở lại do sự phục hồi của ngành ô tô và tiêu thụ nhiên liệu sau thời điểm giảm sâu trong thời điểm đại dịch bùng phát. Giá hàng hóa tăng mạnh nhất trong nhóm thực phẩm (5%), nông sản (5%), kim loại (19%) và nhiên liệu (40%).

Thương mại và GDP của nhiều quốc gia bật tăng trở lại trong quý III/2020 theo sau sự dỡ bỏ một phần các biện pháp giãn cách xã hội. Tuy nhiên, tăng trưởng giao thương dự kiến sẽ chững lại theo quý cuối cùng của năm và sang năm tiếp theo trước viễn cảnh làn song dịch mới sẽ buộc các nước phải áp đặt trở lại biện pháp phong tỏa (một phần hay toàn diện). Cuộc đua giũa sự phát triển của dich bệnh và vắc-xin điều trị vẫn đang tiếp diễn.

Xu hướng cũ trong thương mại toàn cầu

Vậy cú sốc nào trong quá khứ tương tự như như tác động từ dịch COVID-19 đến giao thương? Có thể nói, thương mại thế giới đã tăng trưởng chậm từ những năm 2000, xu thế này được đẩy nhanh sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (có hệ quả lâu dài đến giữa thập niên 2010).

Một vài nhân tố rủi ro có tác động xuyên biên giới có thể được nhận diện. Sự phục hồi yếu ớt của hoạt động đầu tư cố định tại các nền kinh tế phát triển sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm lu mờ tầm quan trọng của hoạt động thương mại trong bối cảnh trao đổi xuyên biên giới định hình các tài sản đầu tư cố định. Tuy vậy, một số xu hướng chính trong cơ cấu thương mại vẫn không thay đổi.

Thời kỳ vàng son của toàn cầu hóa 2.0 cùng với sự lên ngôi của các chuỗi giá trị toàn cầu đạt cực thịnh vào năm 2008. Cùng thời điểm, giao thương toàn cầu chững lại khi GDP và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài quy mô toàn thế giới đã suy giảm trong thập niên 2010 (hình 3).

C3. 2

Thời kỳ vàng son phản ánh sự giao thoa của hai sự kiện lớn. Một mặt, mở cửa thương mại đã giúp các khu vực có nguồn lao động giá rẻ liên kết với thị trường toàn cầu, bao gồm Trung Quốc, các nước châu Á, Đông Âu và Mexico. Mặt khác, các thành tựu công nghệ trong lĩnh vực giao thông (containers,..), công nghệ thông tin và viễn thông cho phép hoạt động sản xuất được phân tán theo công đoạn và tại những khu vực địa lý khác nhau. Giảm chi phí có thể thực hiện thông qua việc mở rộng các chuỗi giá trị toàn cầu và tiến hành giao thương các sản phẩm trung gian xuyên biên giới.

Sau thời gian tăng trưởng nhanh giữa thập niên 1980 và thập niên 2000, độ co giãn thương mại trên GDP dần mất đi tầm quan trọng. Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP đã chạm mức đỉnh. Từ năm 2008, giao thương toàn cầu tăng trưởng châm hơn GDP ở mức 0.8:1, dẫn đến suy giảm nhẹ của hoạt động xuất khẩu trong tổng sản phẩm nội địa toàn cầu. Ngay cả khi nhân tố tác động có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính toàn cầu không còn, sự hiện diện của của đương cong co giãn thương mại cho thấy đà xuống dốc đã diễn ra trước sự kiên COVID-19; điều này cũng chỉ ra rằng thời kỳ đỉnh cao của hoạt động thương mại đã qua đi.

Một số xu hướng liên quan đến cấu trúc thương mại có thể được nhận thấy rõ ràng. Đầu tiên, hoạt động chế tạo đang ngày càng tự động hóa, đối với một số chuỗi cung ứng, những lợi thế từ việc đặt công xưởng tại các địa điểm có nguồn lao động giá rẻ đang mất dần. Đây không phải là một động thái phổ biến hoặc bất ngờ tại nhiều ngành nhưng xu hướng phát triển của công nghệ đang dịch chuyển theo hướng đi vừa nêu. Số hóa được thúc đẩy bởi dịch COVID-19 và sẽ tác động mạnh đến ngành chế tạo.

Trong tất cả trường hợp, hoạt động phân mảng sản xuất theo trục dọc và trục ngang đã hoàn thành, trong khi đó lĩnh vực dịch vụ không tiển triển với cùng nhịp độ.

Hơn thế, làn sóng thương mại và chuyển hóa cấu trúc đang hình thành trên cơ sở chính sách tái cân bằng của Trung Quốc: quốc gia đông dân nhất thế giới đã đạt được bước tiến cao hơn trong các chuỗi GVC, đồng thời dần đưa tiêu dùng trở thành động lực trong tổng GDP nội địa cũng như nâng cao tỷ lệ ngành dịch vụ trong giá trị tổng sản phẩm quốc nội. Với sự phát triển của tầng lớp trung lưu, thị trường nước này đang tiêu thụ nhiều hơn những gì họ sản xuất. Hoạt động nhập khẩu của nền kinh tế số 2 thế giới đã chững lại trong năm 2015, ngược lại, nhập khẩu vẫn tiếp tục tăng.

Các quốc gia tân tiến đang dần trở thành những nền kinh tế lấy dịch vụ là cơ sở chính. Trong bối cảnh sự phổ biến của những GVC cùng đà phát triển của họat động tăng trưởng trên nền tảng chuyển đổi cấu trúc - đặc biệt tại Trung Quốc - đang diễn ra, với tác động lớn lên lĩnh vực thương mại nói chung, những nước phát triển vẫn duy trì đà tiến trên con đường hình thành các nền kinh tế lấy dịch vụ là nền tảng – xu thế phổ biến sau cuộc khủng hoàng tài chính toàn cầu.

Sự thay đổi của tiến trình phát triển công nghệ cũng như tầm quan trọng gia tăng của lĩnh vực dịch vụ đang thúc đẩy quan điểm chống thương mại khi ngành này ít phụ thuộc vào giao thương nói chung trừ trường hợp ngành du lịch.

Ngoài ra, sự gia tăng các chính sách hạn chế thương mại cùng hoạt biện pháp thuế quan và trợ trong những ngành trọng yếu tại một số quốc gia có thể gây ra những tác động quan trọng (hình 4). Trong thập niên 2010, không có bất kỳ thỏa thuận thương mại đa phương quy mô lớn nào được ký kết và thực thi, trong khi đó Anh lại bỏ phiếu rời EU còn Hoa Kỳ theo đuổi việc tái đàm phán những thỏa thuận thương mại.

C3. 3

Tái định hình toàn cầu hóa

Cuộc khủng hoảng COVID-19 có thể tạo ra những rào cản thương mại mang tính tạm thời hoặc bền vững. Nhiều quốc gia phản ứng trước giai đoạn đầu của dịch bệnh bằng việc tăng cường hạn chế thương mại, đặc biệt với việc xuất khẩu các mặt hàng y tế và thực phẩm. Giữa tháng 4/2020, hơn 80 quốc gia đã áp đặt lệnh cấm xuất khẩu lên thiết bị y tế, đồ bảo hộ cá nhân nhằm chặn sự lây lan của dịch COVID-19 trong nội địa.

Hình 4 cho thấy một số tiến triển trong các biện pháp tạo thuận lợi thương mại nhằm giảm tác động từ những biện pháp hạn chế giao thương quốc tế trong bối cảnh nhiều chính phủ nhận thấy hàng nhập khẩu hay nhu cầu từ nước ngoài sẽ mang đến cho họ nhiều lợi thế hơn là dựa vào năng lực sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, các nước ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và New Zealand trong thời gian gần đây đã gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP). Thỏa thuận đã nêu sẽ giúp giảm thuế cho nhiều loại hàng hóa, mở cửa thị trường cho hoạt động dịch vụ và đồng bộ hóa quy định về quy tắc xuất xứ. Tuy nhiên, một vài hàng rào thương mại mới xuất hiện trong vòng 2 năm qua trên bình diện toàn cầu vẫn được giữ nguyên.

Vậy, đứt gãy và thiếu hụt sản phẩm thiết yếu có tác động như thế nào đến quan điểm của các chính phủ và nhà quản lý chuỗi giá trị toàn cầu? Một số người đã nhận thấy sự xuất hiện trở lại của những cuộc thảo luận về các yếu tố ẩn giấu – vô hình liên quan đến chi phí và rủi ro của hoạt động phân mảng sản xuất quốc tế. Một mặt, nhiều ý kiến cho rằng cần giảm phụ thuộc thương mại, bao gồm nội địa hóa hoạt động sản xuất, qua đó, giảm những rủi ro phát sinh. Mặt khác, sự giảm sút thương mại sẽ tạo ra những thuận lợi lớn về chi phí nếu yếu tố này vượt ra khỏi nhân tố cấu trúc vốn được nhìn nhận như đang tạo lập nền tảng cho sự phát triển của thương mại toàn cầu trước thời điểm đại dịch.

Cơ chế thỏa thuận cung ứng: Góc nhìn GVC

Tương tự như những sự kiện khủng hoảng vào đầu thập niên 2010, sự đứt gãy cung ứng diễn ra tại hầu hết các ngành từ linh kiện ô tô, sản phẩm tiêu dùng điện tử đến thiết bị bảo hộ do đại dịch đã cho thấy rủi ro đến từ sự tập trung quá mức vào hoạt động sản xuất, khai thác sản phẩm từ những nguồn cung ứng có khoảng cách xa về địa lý và quá phụ thuộc vào hoạt động quản lý kho vận cấp tốc. Thuế tăng, hạn chế tiếp cận thị trường và những đứt gãy khác về địa chính trị có thể buộc các doanh nghiệp phải xem xét lại chuỗi cung ứng của họ.

Trong nhiều trường hợp, có thể thấy, các doanh nghiệp đang tăng cường chi trả để giúp phân tán hoạt động cung ứng và sản xuất tại khu vực cũng như tăng cường dự trữ phòng bị mặc dù những hoạt động vừa nêu có thể gây tăng chi phí.

Các thay đổi đã nêu sẽ biến đổi theo từng ngành công nghiệp khi hàng loạt công ty sẽ cân nhắc lợi ích thương mại giữa đảm bảo tính bền vững và duy trì hiệu quả/chi phí. Kinh nghiệm trước đây cũng cho thấy, trong một số lĩnh vực, hoạt động chế tạo được dịch chuyển đến các địa điểm gần với người tiêu dùng, đặc biệt trong thời điểm sự phát triển hệ thống sản xuất nâng cao sử dụng công nghệ 4.0 có thể thay thế lợi ích từ lao động giá rẻ. Thiết bị y tế, sản phẩm sinh hóa, bán dẫn, và sản phẩm điện tử gia dụng là các loại hàng hóa chịu tác động lớn từ các sức ép địa chính trị và yêu cầu từ chính phủ. Như vậy, có thể nhận định, hệ quả từ dịch COVID-19 có thể là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến những thay đổi nêu trên.

Chính sách của chính phủ và căng thẳng địa chính trị

Các chính phủ đang tập trung vào hoạt động sản xuất nội địa nhằm giảm rủi to từ cú sốc phát sinh từ hoạt động cung ứng trong tương lai, đặc biệt đối với các loại hàng như sản phẩm và thiết bị y tế. Ví dụ, Đức đang thể hiện mong muốn nội địa hóa các chuỗi cung cấp, trong khi đó Hàn Quốc cũng đang nghiên cứu khả năng áp dụng những biện pháp nhằm đưa hoạt động sản xuất về chính quốc. Các ví dụ đã nêu có thể không cung cấp bằng chứng cho sự quay lưng đối với toàn cầu hóa nhưng cho thấy nhu vầu tự chủ sản xuất đang gia tăng trên toàn cầu. Đại dịch cũng khuyến khích các chính phủ áp đặt kiểm soát lên hoạt động giao thương sản phẩm y tế và nông nghiệp.

Những chính sách thương mại đơn phương dưới thời Tổng thống Trump khó có thể được áp dụng dưới chính quyền của Tổng thống đắc cử Biden. Tuy vậy, vẫn có nhiều nỗ lực đa phương nhằm mở rộng nghị sự về các biện pháp hạn chế thương mại trong tiến trình đàm phán về hệ thống quy tắc và tiêu chuẩn giao thương.

Về lĩnh vực công nghệ, viễn cảnh tách biệt trong nghiên cứu, chế tạo có thể khiến các thiết bị và hệ thống thông tin tại hai thị trường Mỹ và Trung Quốc không thể tương tác, kết nối, từ đó gây ra những hệ quả phái sinh. Trung Quốc, về phần mình, đã chỉ dấu cho thấy họ đang tìm kiếm sự tự chủ lớn hơn thông qua chính sách “dòng sản xuất sóng đôi” đồng thời đảm bảo tính đa dạng trong các nguồn cung hàng hóa. Như vậy, COVID-19 không tạo ra mâu thuẫn nhưng đóng vai trò là căn nguyên trầm trọng hóa sự tách biệt giữa các thị trường.

Nghị sự về khí hậu

Tương lai của thương mại có thể được điều chỉnh theo những hướng khác nhau. Đại dịch có tác động lan tỏa tích cực liên quan đến nội dung nghị sự về biến đổi khí hậu. Phục hồi xanh là một cụm từ được nhắc đến thường xuyên. Ví dụ, trên cơ sở Thỏa thuận chiến lược của EU về môi trường với mục tiêu cắt giảm mạnh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, Ủy ban châu Âu đang cân nhắc thực hiện đề xuất áp đặt thuế các-bon lên hàng nhập khẩu. Nếu được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, sắc thuế này sẽ cấu trúc lại tính cạnh tranh toàn cầu trong nhiều lĩnh vực công nghiệp.

Lời kết

Bằng việc khoét sâu thêm những mâu thuẫn địa chính trị và kinh tế sẵn có, những tác động nghiêm trọng từ đại dịch có thể để lại những hệ quả lâu dài. Dịch bệnh đang khiến bánh xe lịch sử quay nhanh hơn; ví dụ: một số xu hướng mới đang được cập nhật với tốc độ nhanh hơn. Dịch COVID-19 sẽ không làm đảo chiều nhưng sẽ tái cấu trúc lại toàn cầu hóa.

Nguồn: Seeking Alpha

Từ khóa: GVC, thương mại, dịch vụ, toàn cầu hóa

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795376
Go to top