JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếCách Trung Quốc và Mỹ đe dọa hệ thống thương mại thế giới

Cách Trung Quốc và Mỹ đe dọa hệ thống thương mại thế giới

C1

Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng là mối đe dọa lớn nhất đối với hệ thống thương mại toàn cầu.

Qua nhiều thập kỷ, thương mại đã biến Trung Quốc thành một cường quốc kinh tế lớn với các liên kết thương mại rộng khắp trên thế giới. Đến năm 2012, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của 124 quốc gia, vượt xa con số 76 của Hoa Kỳ. Nhưng trong quá trình thương mại làm thay đổi Trung Quốc, thì Trung Quốc cũng tác động ngược trở lại làm thay đổi hệ thống thương mại thế giới. Sự tác động đó bắt đầu bằng sự nổi lên của Trung Quốc với tư cách là trung tâm của chuỗi cung ứng toàn cầu, sau đó là chương trình cơ sở hạ tầng khổng lồ dẫn dắt nhu cầu toàn cầu đối với các mặt hàng như quặng sắt, đồng và than, và gần đây nhất là việc Bắc Kinh tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới bên ngoài và bên trong châu Á để đối phó với cuộc chiến thương mại của Mỹ.

Trung Quốc có được sự trỗi dậy về kinh tế như trên là nhờ việc hội nhập vào một hệ thống quốc tế dựa trên luật lệ (WTO). Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh và tính nhạy cảm đã làm căng thẳng quan hệ của Trung Quốc với nhiều đối tác thương mại quan trọng của nước này, đặc biệt khi Bắc Kinh sử dụng đòn bẩy kinh tế để can thiệp chiến lược khắp châu Á và một số khu vực ở châu Âu, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tuy nhiên, Trung Quốc không đơn độc trong việc sử dụng ảnh hưởng kinh tế của mình cho các mục đích chính trị; Hoa Kỳ cũng đang áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với các nước như Iran và Venezuela và sử dụng các biện pháp thương mại trừng phạt chống lại Trung Quốc và các quốc gia khác. Mặc dù các biện pháp can thiệp của hai nước khác nhau về bản chất, nhưng trớ trêu thay, hệ thống thương mại toàn cầu hiện đang bị phá hoại bởi một trong những nước sáng lập ra hệ thống này và bởi một trong những nước hưởng lợi lớn từ hệ thống.

Khi Trung Quốc hội nhập sâu hơn vào hệ thống kinh tế toàn cầu, việc sử dụng các hành động ép buộc để phục vụ lợi ích chiến lược của Trung Quốc cũng tăng lên theo. Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001 đã tạo điều kiện cho quốc gia này nổi lên như một trung tâm của mạng lưới sản xuất toàn cầu, tiếp nhận các bộ phận và linh kiện chủ yếu từ các nền kinh tế Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan - chiếm 40% tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc tại thời gian đó - và chế biến để tái xuất sang Hoa Kỳ và Châu Âu. Khi Trung Quốc đã trở thành nhà máy lắp ráp của thế giới, nước này đã kéo nền kinh tế của cả Đông Á đi lên. Nhưng Trung Quốc cũng được coi là người làm trầm trọng thêm tình trạng mất cân bằng vĩ mô toàn cầu và gieo mầm mống cho căng thẳng gia tăng với phương Tây.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khiến Trung Quốc khởi động một chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng ồ ạt. Các dự án thâm dụng tài nguyên và năng lượng đã thúc đẩy gia tăng thương mại và đầu tư với các nhà sản xuất hàng hóa lớn, chủ yếu ở châu Phi, Mỹ Latinh và Trung Đông. Nhu cầu dường như vô tận của Trung Quốc đối với nguyên liệu thô và sản phẩm hóa dầu đã khiến thâm hụt của nước này với các nhà xuất khẩu các loại hàng hóa trên tăng gần gấp ba lần từ năm 2009 đến năm 2012. Sự hiện diện ngày càng sâu rộng của Trung Quốc đã thúc đẩy tăng trưởng ở Mỹ Latinh và châu Phi, nhưng cũng gây ra lo ngại về tình trạng bóc lột, phụ thuộc quá nhiều vào lao động Trung Quốc và bẫy nợ.

Trong khi đó, sau cuộc khủng hoảng tài chính, thâm hụt thương mại của Châu Âu với Trung Quốc trở nên vừa phải khi thu nhập hộ gia đình tăng cao của Trung Quốc làm tăng nhu cầu đối với hàng tiêu dùng cao cấp của Châu Âu. Mối quan hệ kinh tế ngày càng sâu sắc của Châu Âu với Trung Quốc, được tạo điều kiện bằng cách tăng cường đầu tư nước ngoài, đã khuyến khích Châu Âu tiếp cận quan hệ với Trung Quốc một cách thận trọng hơn so với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những liên kết này cũng cung cấp cho Trung Quốc đòn bẩy để ban hành các biện pháp trừng phạt có mục đích, ví dụ, đối với việc Na Uy trao giải Nobel Hòa Bình năm 2010 cho Lưu Hiểu Ba, và bằng cách đóng băng đơn đặt hàng máy bay từ Airbus vào năm 2009 khi Tổng thống Pháp lúc bấy giờ là Nicolas Sarkozy gặp gỡ Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Khi áp lực thương mại gia tăng với phương Tây, Trung Quốc bắt đầu đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu của mình, sử dụng Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường để tăng cường liên kết với Trung và Đông Âu, đồng thời đầu tư vào Mexico như một cứ điểm sản xuất phục vụ thị trường Hoa Kỳ nhằm đối phó với thuế quan trong chiến tranh thương mại. Đáng kể hơn, Trung Quốc đã tăng cường hoạt động thương mại với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), do tầm quan trọng địa chính trị của khu vực. Thương mại của Trung Quốc với ASEAN đã tăng với tốc độ hàng năm gần 9 % từ năm 2010 đến năm 2018 so với tốc độ tăng trưởng thương mại của Trung Quốc với toàn thế giới là khoảng 5,5%.

ASEAN cảm nhận được sức hút mạnh mẽ về kinh tế của Trung Quốc, nhưng nhiều thành viên trong khối cũng liên kết chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ trong các vấn đề về an ninh, xung quanh các tranh chấp hàng hải trong khu vực. Việt Nam và Philippines là hai ví dụ minh họa cho thấy mối quan hệ ngày càng sâu sắc với Trung Quốc đã giúp thúc đẩy phát triển kinh tế như thế nào, nhưng đồng thời, sự liên kết này cũng làm trầm trọng thêm căng thẳng chính trị lâu dài liên quan đến các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông.

Khi tầm ảnh hưởng với bên ngoài ngày càng tăng, Bắc Kinh cũng ngày càng sử dụng biện pháp ép buộc, thường bằng cách áp đặt các hạn chế thương mại, để bày tỏ sự không hài lòng về các vấn đề chính sách đối ngoại. Vào tháng 5/2020, Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại đối với thịt bò và lúa mạch của Úc sau khi Canberra kêu gọi một cuộc điều tra về nguồn gốc của đại dịch Covid-19. Một ví dụ khác là việc Trung Quốc chặn đứng nhập khẩu thịt lợn từ Đức, trùng hợp với việc gây áp lực lên Berlin để không tham gia các biện pháp lên án của Washington đối với vấn đề nhân quyền của Trung Quốc. Trong hầu hết các trường hợp, Bắc Kinh đều không thừa nhận động cơ thực sự của mình; thay vào đó, nước này chỉ cho rằng ra các biện pháp hạn chế thương mại trên xuất phát từ lo ngại về an toàn sản phẩm hoặc tình trạng bán phá giá.

Trung Quốc hiếm khi tuyên bố trước ý định của mình, thường hành động một mình và sử dụng các biện pháp có chọn lọc để nhắm vào các thực thể cụ thể. Các hành động của Trung Quốc thường được kích hoạt bởi các sự kiện cụ thể được coi là đe dọa lợi ích cốt lõi liên quan đến toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của mình, đặc biệt là liên quan đến Đài Loan và Hồng Kông. Các biện pháp này thường có bản chất ngắn hạn và được thiết kế để thay đổi hành vi. Hiệu quả của các hành động của Trung Quốc trong việc ảnh hưởng đến tình cảm và chính sách của công chúng nước ngoài là một chủ đề gây tranh cãi. Việc Bắc Kinh kiên trì với các biện pháp cưỡng chế phản ánh việc Trung Quốc không có khả năng sử dụng quyền lực mềm để gây ảnh hưởng đến người khác. Chỉ số quyền lực mềm do Đại học Nam California phát triển đã xếp Trung Quốc vào gần cuối bảng xếp hạng gồm 30 quốc gia; ngược lại, Hoa Kỳ thường nằm trong số 5 quốc gia đầu bảng. Thiếu sự khéo léo này, Bắc Kinh sử dụng các công cụ thẳng thừng để đưa ra quan điểm của mình, đồng thời nhận thức sâu sắc rằng những hành động như vậy khó có thể thay đổi niềm tin cơ bản của chủ thể chính.

Ngược lại, các biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ thường được thiết kế để tác động rộng hơn và lâu dài hơn nhiều, mặc dù kết quả của các biện pháp này còn gây tranh cãi. Như trường hợp của Iran và Triều Tiên, các biện pháp trừng phạt thường được chính thức hóa thông qua luật trong nước hoặc các lệnh hành pháp và được các nước đồng minh ủng hộ. Bên cạnh các trừng phạt về thương mại và ngoại giao, trừng phạt về tài chính - hạn chế quyền tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của Hoa Kỳ - là nghiêm trọng nhất, có thể làm tê liệt nghiêm trọng các hoạt động thương mại của một quốc gia.

Hợp tác với các cường quốc là con dao hai lưỡi: Mối quan hệ thương mại với họ càng sâu sắc thì lợi ích đem lại càng lớn, nhưng đồng thời, khả năng bị họ sử dụng sức mạnh kinh tế để gây sức ép cũng càng lớn. Trung Quốc ngày càng không ngần ngại sử dụng các biện pháp đả kích để bảo vệ lợi ích của mình, bất chấp các biện pháp đó có thể phá hoại hệ thống thương mại dựa trên quy tắc – vốn đã giúp Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế như hiện nay. Trong khi đó, chính quyền Mỹ cũng ngày càng chệch hướng với các cách làm trước đây, đó là sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế chống lại cả bạn và thù. Hơn nữa, hành động làm mất uy tín của các cơ quan quốc tế như WTO và Tổ chức Y tế Thế giới của Hoa Kỳ cũng đang phá hoại trật tự kinh tế thế giới. Và không nơi nào những xu hướng này được thể hiện nhiều hơn như tại cuộc chia tách hỗn loạn mà Nhà Trắng thực hiện trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Các hành động đồng thời trên của hai cường quốc hiện đang đe dọa khả năng sống còn của hệ thống tài chính quốc tế vốn đã và đang phục vụ tốt cho thế giới trong 70 năm qua.

Yukon Huang là thành viên cấp cao của Carnegie Endowment for International Peace.

Jeremy Smith là một nhà kinh tế học tại IHS Markit và là cựu thành viên của Carnegie Endowment for International Peace.

Nguồn: the Diplomat

Từ khóa: chiến tranh Mỹ- Trung, thương mại toàn cầu

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795194
Go to top