JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếThương mại, Niềm tin và Tương lai của Châu Á

Thương mại, Niềm tin và Tương lai của Châu Á

 thuong mai1

Mặc dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19 kéo dài, nhưng nhiều nền kinh tế ở châu Á dường như vẫn có khả năng chống chọi và tự phục hồi. Việt Nam là một trong nhóm các quốc gia ứng phó thành công với đại dịch Covid-19, và thuộc nhóm quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhanh nhất châu Á, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong quý III tăng 2,62%.

Nhờ vào việc xuất khẩu hồi phục khi đất nước dần thoát khỏi sự tác động của đại dịch Covid-19, tăng trưởng GDP Việt Nam đã được cải thiện từ mức chỉ có 0,36% trong tháng 4 và tháng 5.

Xuất khẩu quý III của Việt Nam tăng 34% so với quý trước, và tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số quản lý thu mua (PMI) tháng 9 cũng đã được cải thiện, đã đạt mức tốt nhất trong hơn một năm.

Về các nước khác, chỉ số PMI tháng 9 của Nhật Bản đạt 47.7 điểm, đây là mức tăng cao nhất kể từ tháng 2 (chỉ đạt 47.2 điểm). Trong khi đó, Thái Lan và Philippines cũng đạt chỉ số PMI cao hơn. Và xuất khẩu của Hàn Quốc lần đầu tiên tăng trở lại kể từ khi đại dịch xảy ra.

Mặc dù các trường hợp nhiễm Covid vẫn tiếp tục gia tăng, nhưng tại Ấn Độ, hoạt động của các nhà máy trong tháng 9 đã tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn 8 năm qua, do việc nới lỏng các hạn chế, mở cửa biên giới đã thúc đẩy nhu cầu và sản lượng tăng vọt. Những dấu hiệu phục hồi như vậy là một tin đáng mừng đối với nền kinh tế lớn thứ ba châu Á, tuy nhiên nền kinh tế Ấn Độ vẫn chưa thoát khỏi suy thoái. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1979, nước này chứng kiến nền kinh tế suy thoái nguyên năm.

Nhìn chung, các số liệu trên cho thấy các nền kinh tế dẻo dai của châu Á sẽ phục hồi trở lại nhanh hơn so với các nền kinh tế còn lại trên thế giới. Tăng trưởng của khu vực này được dự báo sẽ chiếm 50% nền kinh tế toàn cầu vào năm 2040.

Do đó, Mỹ không thể bỏ qua tiềm năng này. Chiến lược của Washington đối với châu Á đang được theo dõi chặt chẽ, đặc biệt khi cuộc bầu cử ở Mỹ sắp diễn ra vào ngày 03/11.

Nếu Washington muốn gắn kết chặt chẽ hơn với châu Á, thương mại chính là “chìa khóa” và việc quay trở lại thỏa thuận thương mại Thái Bình Dương được xem là chất xúc tác. Tổng thống Donald Trump đã rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ngay khi ông nhậm chức vào đầu năm 2017. Tiếp đó là các đợt tăng thuế quan đơn phương và tập trung vào đàm phán song phương.

Ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ - Joe Biden- cho biết ông sẽ cân nhắc việc Mỹ tham gia TPP nếu các điều khoản được sửa đổi. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng về việc Mỹ phải soạn thảo các quy tắc về thương mại.

Trên thực tế, một số vấn đề mà ngay cả các đảng viên Dân chủ phản đối đã được loại khỏi hiệp ước, hiện bao gồm 11 quốc gia và được gọi là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Những nội dung này bao gồm giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước và độc quyền dữ liệu cho các loại thuốc sinh học.

Việc Mỹ tham gia CPTPP sẽ tạo cơ hội cho Washington kết hợp với các quốc gia cùng chí hướng thúc đẩy một mô hình kinh tế khác thay thế cho chủ nghĩa tư bản nhà nước của Bắc Kinh.

Theo Wendy Cutler- cựu quyền Phó Đại diện Thương mại Mỹ phụ trách TPP, trên thực tế, cách tiếp cận theo con đường đơn độc của chính quyền Trump đã không thành công trong việc kiềm chế các hành vi thương mại không công bằng của Trung Quốc.

Cuộc khủng hoảng do Covid-19 cũng bộc lộ những điểm yếu trong mạng lưới chuỗi cung ứng cho các lĩnh vực chiến lược, như từ nguồn cung cấp trang thiết bị y tế cho đến chất bán dẫn.

Việc chuyển toàn bộ hoạt động sản xuất về nước của các công ty, được gọi là "reshoring", là không khả thi. Do đó, thiết lập chuỗi cung ứng với các đối tác đáng tin cậy là một giải pháp thay thế quan trọng. CPTPP thiết lập các quy tắc và tiêu chuẩn chung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển hàng hóa và dịch vụ, và tạo nền tảng vững chắc cho các chuỗi cung ứng đáng tin cậy đó.

Trong khi đó, Trung Quốc đã coi Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) gồm 15 quốc gia trở thành chiến lược ưu tiên, được bổ sung bởi hiệp ước thương mại Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn Quốc hiện đang được xây dựng, cùng với sáng kiến khổng lồ ​​“Vành đai và Con đường”. Tuy nhiên, việc tham gia CPTPP có thể mang lại một hướng đi bổ sung cho Bắc Kinh để tăng cường can dự sâu hơn trong khu vực.

Mặc dù hầu hết các nước CPTPP sẽ không thể từ chối nếu Bắc Kinh muốn tham gia vì sự phụ thuộc của họ vào nền kinh tế Trung Quốc, nhưng các nước này cũng lo lắng về phản ứng của Mỹ nếu để Trung Quốc gia nhập. Việc Trung Quốc thúc đẩy gia nhập Hiệp định sẽ gây áp lực cho các thành viên hiện tại, và các đồng minh của Mỹ có thể sẽ cố gắng đàm phán với Bắc Kinh đồng thời họ cũng nỗ lực lôi kéo Mỹ quay trở lại đàm phán.

Các chuyên gia cho rằng, để thu hút sự chú ý của chính quyền Mỹ, trong trường hợp ông Biden đắc cử, thì các nước thành viên CPTPP cần phải thay đổi hơn nữa các vấn đề mà Mỹ quan tâm như về thương mại kỹ thuật số và các vấn đề lao động và biến đổi khí hậu.

Trong bối cảnh hiện nay của Mỹ, thực hiện chiến lược thắt chặt quan hệ thương mại với châu Á rõ ràng là chính sách tốt nhất. Có rất ít quốc gia châu Á hy vọng Trung Quốc thống trị khu vực. Tuy nhiên, châu Á đang bị rạn nứt về mặt chính trị và ngày càng gia tăng hơn sự cạnh tranh giữa các cường quốc.

Nếu Mỹ đổi ý muốn gia nhập lại CPTPP, đó sẽ là một sự đảo ngược đáng kinh ngạc. Hiện nay, lý do để Mỹ quay trở lại CPTPP là thuyết phục hơn bao giờ hết.

Nguồn: Bangkok Post

Từ khóa: Thương mại, dịch vụ, châu Á, CPTPP, RCEP, chuỗi cung ứng

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795103
Go to top