JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếLàm thế nào để bảo vệ người lao động mà không cần dùng đến thuế quan thương mại

Làm thế nào để bảo vệ người lao động mà không cần dùng đến thuế quan thương mại

laodong14032018

Tác giả: Robert J. Shiller – đạt giải Nobel kinh tế năm 2013, Giáo sư Kinh tế học tại Đại học Yale và là đồng sáng lập của Case-Shiller Index (chỉ số giá nhà S&P).

Cuộc chiến thương mại mà Donald Trump phát động là một bi kịch cho thế giới. Tuy nhiên, vẫn có thể có một kết thúc có hậu, nếu cuộc chiến rốt cuộc nhắc nhở chúng ta về rủi ro mà người dân phải hứng chịu bởi thương mại tự do, và nếu chúng ta cải thiện các cơ chế bảo hiểm để giúp đỡ họ phòng ngừa được rủi ro đó.

Theo cuộc khảo sát của Trường Washington Post/Schar công bố vào ngày 11/7, chỉ có 39% người được hỏi đồng tình với việc Tổng thống Donald Trump áp thuế lên các nước, trong khi có đến 56% phản đối cách làm trên. Tuy nhiên, mặc dù đây là tin vui khi phần đông người Mỹ phản đối Tổng thống của họ trong các vấn đề then chốt, Trump vẫn tiếp tục triển khai kế hoạch, tin tưởng rằng công chúng sẽ thích mức thuế hơn khi chúng bắt đầu có hiệu lực.

Tại sao có đến 39% ủng hộ những chính sách này cũng là một điều khó hiểu. Từ thời kỳ Đại suy thoái, từ Thế chiến thứ II, cũng như từ khi Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại ra đời năm 1947 cho đến nay, chưa bao giờ mà nước Mỹ - cả chính phủ lẫn người dân – lại lấn cấn trong việc ủng hộ thương mại tự do đến như vậy.

Trong cuốn sách xuất bản năm 1776 mang tên “Sự giàu có của các quốc gia”, tác giả Adam Smith đã cung cấp một lập luận hùng hồn và đầy tính thuyết phục về tự do thương mại, thay vì một nền thương mại bị bóp méo bởi thuế quan. Bằng cách tự do hóa thương mại, các nền kinh tế sẽ trở nên giàu có, bởi vì hàng hóa và dịch vụ được cung ứng bởi các quốc gia làm ra hàng hóa và dịch vụ đó hiệu quả nhất.

Ngay từ khi ra mắt, quyển sách của Smith đã trở thành tâm điểm bàn tán, và các bằng chứng sau đó cũng ủng hộ cho lập luận trên. Nghiên cứu của hai nhà kinh tế học Jeffrey Frankel và David Romer đã chứng minh, các quốc gia có nền thương mại tự do hơn sẽ có tăng trưởng kinh tế cao hơn. Kết quả nghiên cứu cũng phủ nhận quan hệ nhân quả ở chiều ngược lại, tức tăng trưởng kinh tế dẫn đến thương mại tự do.

Vậy thì, tại sao ngày nay, chúng ta lại đang chứng kiến một mức độ ủng hộ cao đến như vậy trong công chúng dành cho cuộc chiến thương mại mà Mỹ phát động?

Lý do bắt nguồn từ tình trạng bấp bênh việc làm do thương mại tự do đôi lúc gây ra, và từ cảm giác bất công của những người bị mất việc cảm nhận, khi mình trở thành ‘phần tử thua cuộc’ trong xã hội. Hầu hết mọi người không muốn nhận sự bố thí. Các cử tri Mỹ đã phản hồi tốt với khẩu hiệu “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Trong khi đó, họ không mấy yêu thích câu hô hào của vị Tổng thống tiền nhiệm Obama “hãy phân phát của cải cho xung quanh”.

Năm 1982, nhà khoa học chính trị John Ruggie đã lập luận rằng, chủ nghĩa đa phương và nền thương mại tự do sau thế chiến lần thứ II là đi theo học thuyết chủ nghĩa tự do mở rộng (embedded liberalism - chủ nghĩa tự do mở rộng nhấn mạnh vai trò to lớn và trực tiếp của nhà nước trong đời sống kinh tế trong nước và quốc tế nhằm bảo vệ chủ nghĩa tư bản, khắc phục những yếu kém của thị trường)”. Một hệ thống đa phương và đánh thuế thấp chỉ khả thi về mặt chính trị, khi có sự can thiệp của chính phủ để ổn định đời sống kinh tế cho người dân.

Nhà kinh tế học Dani Rodrik đã cung cấp thêm bằng chứng ủng hộ quan điểm của Ruggie. Sử dụng dữ liệu của 125 nước và sau khi loại bỏ các yếu tố khác, Rodrik nhận thấy có mối tương quan dương giữa mức độ mở cửa kinh tế của một nước với tỷ trọng chi tiêu chính phủ trong GDP; Điều đó nói lên là, những nước càng mở cửa càng trích một tỷ trọng lớn hơn trong GDP để chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ công cho người dân nước đó. Các quốc gia giao thương mạnh không phải là các quốc gia có chính phủ nhỏ (small-government chính phủ ít can thiệp): thực tế hoàn toàn ngược lại.

Ở nhiều nước, tổng chi tiêu chính phủ thì quan trọng hơn nhiều so với các chương trình bảo hiểm thất nghiệp của chính phủ, hay các chương trình có ý nghĩa tương tự khác, như chương trình Hỗ trợ Điều chỉnh Thương mại đang áp dụng tại Mỹ. Chương trình Điều chỉnh Thương mại này sẽ trợ cấp tạm thời cho những người chứng minh được rằng họ bị mất việc làm về tay các lao động nước ngoài do thương mại tự do gây ra trong lúc họ chưa tìm được việc làm mới. Vị Tổng thống tiền nhiệm Obama mong muốn, các biện pháp hỗ trợ như trên sẽ còn phát triển hơn nữa, bằng cách đề xuất đạo luật bảo hiểm tiền lương. Nhưng thậm chí ngay cả một đạo luật khiêm tốn như vậy cũng đã không được ban hành.

Trong quyển ‘Trật tự tài chính mới’ mà tác giả phát hành năm 2003, tác giả ủng hộ gói “bảo hiểm nghề nghiệp” được phát hành bởi các công ty bảo hiểm tư nhân, một dạng bảo hiểm bảo vệ người lao động trước các mất mát dài hạn trong thu nhập, mức bảo hiểm sẽ dựa trên yếu tố việc làm và học vấn. Tuy nhiên, mặc dù các chương trình như trên có thể khuyến khích người lao động chấp nhận rủi ro nghề nghiệp và khuyến khích tăng trưởng kinh tế, cho đến nay các gói bảo hiểm như vậy vẫn chưa được triển khai.

Một trong số các lý do tại sao việc áp dụng các nguyên tắc bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro trong thương mại lại khó khăn đến vậy đó là, nếu chính phủ đứng ra bảo trợ việc làm bị mất đi trong quá trình thương mại tự do, cách làm trên hoàn toàn giống như chính sách tái phân bổ. Chính phủ càng không thể bảo hiểm việc làm đặc biệt khi quá trình thương mại tự do – và các rủi ro đi kèm - là mang tính dài hạn. Tình trạng mất việc làm trong ngành thép của Mỹ khi các nhà máy phải đóng cửa trước sự cạnh tranh của nước ngoài có lẽ sẽ còn kéo dài mãi mãi. Nhưng thật khó để tưởng tượng các chính phủ lại trợ cấp cho các công nhân bị đào thải trong hàng thập kỷ qua.

Ngày này, với việc toàn cầu là một xu hướng rõ ràng sẽ còn tiếp tục kéo dài và tình trạng mất cân đối giữa các nước ngày càng mở rộng, người dân có khuynh hướng cảm thấy tình hình kinh tế của họ trong dài hạn sẽ gặp rủi ro hơn. Chúng ta cần phải tìm ra giải pháp bảo vệ người dân trước nguy cơ của thị trường toàn cầu mà không động chạm đến lòng tự trọng của họ.

May mắn là, trong quá khứ không thiếu các tiền lệ về các chương trình tái phân bổ của chính phủ không dùng tiền mặt, và có vẻ không mang tính chất bố thí cho những người thua cuộc trong xã hội. Khi chính phủ chi tiêu tiền thuế vào lĩnh vực giáo dục công và y tế cộng động, các bước đi này không quá nặng tính tái phân bổ, bởi các dịch vụ này được phân phối cho tất cả mọi người. Miễn là hầu hết người dân đều sử dụng trường học và bệnh viện công, việc tái phân bổ sẽ không còn mang dáng dấp của một hành động bố thí nữa.

Một giải pháp khác đó là chính phủ phải khuyến khích người dân tự mua bảo hiểm việc làm cho mình bằng cách chính phủ sẽ trợ cấp cho hoạt động đó, để giúp bù đắp thiệt hại của tình trạng thất nghiệp do thương mại quốc tế gây ra. Giải pháp trợ cấp thông qua các công ty bảo hiểm tư nhân cạnh tranh công bằng và tuân thủ quy định có lẽ sẽ mang tính sáng tạo nhiều hơn trong việc kiểm soát thành công rủi ro mà thương mại tự do gây ra cho các cá nhân.

Cuộc chiến thương mại mà Trump phát động là một bi kịch cho thế giới. Tuy nhiên, có thể vẫn có một kết thúc có hậu, nếu cuộc chiến rốt cuộc nhắc nhở chúng ta về rủi ro mà thương mại tự do có thể đem lại cho người dân, và nếu chúng ta cải thiện các cơ chế bảo hiểm để giúp đỡ họ phòng ngừa được rủi ro đó.

Nguồn: Project – Syndicate – TQ

Từ khóa: Thuế quan, thương mại tự do, bảo hiểm việc làm, mất việc

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008790361
Go to top