
Mutianyu (慕田峪) là một đoạn của Vạn Lý Trường Thành vẫn còn trong tình trạng được bảo tồn tốt, cách thủ đô Bắc Kinh khoảng 40 dặm về phía Đông Bắc. Đầu tháng này, trong một buổi chiều rãnh rỗi hiếm hoi tại Bắc Kinh, tôi đã quyết định quẳng núi thư từ sang một bên để đi tham quan một trong “bảy kỳ quan của thế giới”. Đó là một lựa chọn sáng suốt. Ngày hôm đó trời trong, người thưa, vì vậy, quanh cảnh thật hùng vĩ.
Vạn Lý Trường Thành bắt đầu được xây dựng hơn 2000 năm trước, nhằm bảo vệ Trung Quốc khỏi giặc ngoại xâm. Đứng trên đỉnh cao của công trình kiến trúc này, tôi chắc hẳn đã không nhìn thấy đoàn quân Mông Cổ nào đang có ý định xâm lược. Thật ra, Vạn Lý Trường Thành đúng hơn là một biểu tượng cho quan điểm bài xích tư tưởng ngoại lai có từ xa xưa của người Trung Quốc. Ở thời đại ngày nay, một bức Tường Thành nữa cũng đã được chính quyền Trung Quốc dựng lên nhằm để kiểm soát vấn đề thương mại, và hiện nay, bức tường đó đang bị chỉ trích trở lại.
Chuyến thăm châu Á đã cho tôi cơ hội được nhìn nhận về tình hình căng thẳng thương mại leo thang gần đây dưới góc nhìn của phương Đông. Cũng dễ hình dung là, có sự khác biệt lớn trong tư tưởng giữa các nước phương Đông và phương Tây, và sự khác biệt này cần phải được điều chỉnh để tránh xảy ra một cuộc chiến thương mại toàn lực.
Cũng giống như các quốc gia châu Á khác, Trung Quốc chọn xuất khẩu là con đường để phát triển đất nước. Tận dụng lợi thế lao động giá rẻ, các doanh nghiệp sản xuất của Trung Quốc đã từng bước đánh chiếm thị phần trong giai đoạn tư năm 1970 đến 2000, và bắt đầu bức tốc sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2002. Tư tưởng trọng thương đã giúp Trung Quốc tạo ra thặng dự thương mại khổng lồ, cả với thế giới nói chung và với Mỹ nói riêng.

Làn sóng chỉ trích càng leo thang khi Trung Quốc lấn sân sang công nghiệp. Suốt nhiều năm qua, các nước phản đối cho rằng các quy định về môi trường của Trung Quốc quá lỏng lẻo, các khoản chính phủ hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nước thì quá hào phóng, và đồng nội tệ lại bị định giá quá thấp. Việc Trung Quốc tước đoạt sở hữu trí tuệ và sử dụng một số quy định gây cản trở cho các doanh nghiệp nước ngoài cũng là một trong những nguồn cơn gây ra sự lo ngại. Những gì mà quốc gia châu Á này gọi là “chủ nghĩa xã hội mang đặc trưng của Trung Quốc” lại đang được các nước phương Tây nhìn nhận đơn thuần là một kế hoạch tập trung quyền lực và bảo hộ.
Để giữ cho các thị trường thực sự mở cửa, các nước thành viên của WTO đã cam kết hạn chế sự can thiệp của chính phủ trong vấn đề thương mại và nguồn vốn. Tuy nhiên trên thực tiễn, cách làm của Trung Quốc vẫn luôn bị các nước tư bản phương Tây nhìn nhận là quá hạn chế. Trong khi Hoa Kỳ là nước đi đầu trong việc phản đối Trung Quốc, nhiều nước khác cũng cảm nhận rất rõ, Trung Quốc đã không tuân thủ cam kết mở cửa của mình.
Đứng từ góc độ Trung Quốc, hạn chế thương mại không phải là nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất cân bằng thương mại. Khi một đất nước có tỷ lệ tiết kiệm cao giao thương với một nước có tỷ lệ tiết kiệm rất thấp, không tránh khỏi tạo ra thặng dư thương mại. Tỷ lệ tiết kiệm của Mỹ nhỏ hơn Trung Quốc khoảng 10 lần; vì vậy, dẫn đến bất cân xứng trong dòng chảy thương mại. Khi Trung Quốc bắt đầu phát triển, tổng tiêu dùng cả nước cũng đã tăng lên. Tuy nhiên, tỷ trọng tiêu dùng trong GDP của Trung Quốc vẫn còn rất thấp so với tỷ lệ này ở Mỹ.
Người Trung Quốc còn cho rằng chính Mỹ mới là quốc gia vi phạm nhiều hơn Trung Quốc trong lĩnh vực thương mại. Trên thực tế, số lượng vụ kiện tại WTO mà Mỹ là bị đơn nhiều gấp 3 lần so với số vụ mà Trung Quốc là bên bị. Thống kê trên còn chưa tính đến các vụ kiện mà Mỹ sắp sửa phải đối mặt, khi Canada, EU, và nhiều nước khác nữa đưa Mỹ ra WTO vì các động thái thương mại mới đây của Washington. Chính quyền Mỹ gần đây đã tiến hành nhiều biện pháp thương mại dưới danh nghĩa an ninh quốc gia – một lý lẽ được các quốc gia châu Á xem là sự phóng đại.

Trong hai năm trở lại đây, Trung Quốc luôn tuyên bố mình là lá cờ đầu trong phong trào thương mại tự do trên thế giới. Nhưng tuyên bố trên cần phải được xem lại một cách cẩn trọng. Trong khi thuế quan ở hầu hết mọi nơi trên thế giới đã hạ xuống rất thấp trong vòng 30 năm qua, thì Trung Quốc vẫn duy trì mức thuế tương đối cao. Và trong khi hầu hết các quốc gia đều đã cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đầu ngành, Trung Quốc vẫn tiếp tục sở hữu nhiều cổ phần và gây ảnh hưởng lớn trong các Tập đoàn.
Chính sách công nghiệp của Trung Quốc được thể hiện rõ nét trong kế hoạch “Made in China 2025”, kế hoạch nhằm biến Trung Quốc trở thành nhà phát triển hàng đầu thế giới trong lĩnh vực robot, trí thông minh nhân tạo, thương mại điện tử và các nền tảng bổ trợ khác. Các ngành công nghiệp này đóng vai trò trụ cột để thúc đẩy kinh tế Trung Quốc tiếp tục phát triển trong các thập niên về sau. Để đẩy nhanh kế hoạch, chính phủ Trung Quốc đã nắm quyền kiểm soát trong các tập đoàn đầu ngành và gây khó khăn cho các doanh nghiệp công nghệ của nước ngoài muốn đầu tư vào các lĩnh vực này.
“Made in China 2025” còn nhằm mục đích tấn công các lĩnh vực mà Mỹ đang chiếm ưu thế, và những ngành có ý nghĩa chiến lược. Vì vậy, không quá ngạc nhiên khi Mỹ chọn công nghệ làm mục tiêu đầu tiên trong chuỗi đánh thuế của mình. Các nước phương Tây cũng lưu ý, “Made in China 2015” là ví dụ điển hình về các tập quán cạnh tranh không công bằng của Bắc Kinh, mà theo họ, tình trạng này sẽ chỉ được khắc phục thông qua các biện pháp mạnh.
Cuối thập niên 1990, các nước đang phát triển ở châu Á đã phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Trong suốt thời kỳ khó khăn đó, các tổ chức quốc tế luôn khuyến khích các quốc gia này mở cửa thị trường hàng hóa và thu hút vốn đầu tư, tuy nhiên, các nước này lại chưa tiến hành song song các biện pháp kiểm soát thương mại và dòng vốn. Trung Quốc đã dùng giai đoạn đó để biện minh cho các biện pháp kiểm soát thương mại, dòng vốn và ngoại tệ không ngừng nghỉ của mình, thậm chí ngay cả khi nước này đã vươn lên thàng nền kinh tế lớn thứ hai thế giới như ngày nay. Điều này khiến cho các doanh nghiệp phương Tây hết sức thất vọng, đặc biệt là các doanh nghiệp tài chính, những người luôn trông đợi cơ hội được thâm nhập thị trường tín dụng, thương mại và đầu tư của Trung Quốc.
Hầu hết người dân Trung Quốc bị cấm đầu tư ra nước ngoài. Điều này đã dẫn đến một loạt trường hợp cung tín dụng quá mức trong nước, trong đó, bất động sản là một ví dụ nổi bật. Mùa thu năm ngoái, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tuyên bố cải cách khu vực tài chính và siết chặt tín dụng. Các chính sách trên đã và đang đạt được tiến bộ, tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm, và đánh đổi bằng rất nhiều thời gian, tiền bạc và sự ủng hộ về mặt chính trị.
Khi đang ở vào thời điểm chông chênh, Trung Quốc lại mong muốn chiến tranh thương mại nổ ra. Cuộc chiến sẽ giúp Trung Quốc đánh lạc hướng dư luận, đồng thời, làm bất ổn tăng trưởng kinh tế, để Trung Quốc có thêm thời gian thực thi các thay đổi trong chính sách. Khi mà mức thuế đã bắt đầu có tác động lên doanh nghiệp Trung Quốc, chính phủ đã chỉ đạo nới lỏng tín dụng, một động thái đi ngược lại với tinh thần cải cách. Trong khi Chủ tịch Tập Cận Bình tại vị là điều chắc chắn, thì vấn đề còn chưa rõ là liệu Trung Quốc có thể ngồi im chờ đợi đến bao giờ trong cuộc chiến với Mỹ. Xuất khẩu sang Mỹ chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP của nước này, trong khi xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc lại không quá quan trọng.
Những người châu Á tôi từng gặp đều cảm thấy hoang mang trước cách làm việc của Mỹ. Họ than thở về những hành động khó đoán của Washington và băn khoăn không biết khi nào sự khiêu khích mới nhường chỗ cho đàm phán. Tôi đã trả lời họ rằng, chiến thuật đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách chọc tức đối thủ không phải đã được mô tả trong Binh Pháp Tôn Tư của Trung Quốc rồi sao, chỉ có điều cách làm của Trump có chút khó chịu hơn.

Những người tôi gặp trong chuyến đi cũng đã cảnh báo cuộc chiến thương mại có thể sẽ đem lại phần thắng cho Mỹ. Nhưng nếu sự việc bị đẩy đi quá xa, không bên nào sẽ được lợi hơn bên nào. Doanh nghiệp Mỹ sẽ phải trả giá bằng chi phí biên tăng lên, và người tiêu dùng sẽ phải trả tiền nhiều hơn cho hầu hết các loại hàng hóa. Số lượng việc làm ở các quốc gia tham chiến có khả năng sẽ sụt giảm. Nhưng có vẻ Nhà Trắng vẫn dự định sẽ tấn công toàn lực, bất chấp sự phản đối của doanh nghiệp trong nước và bất chấp hệ quả làm gián đoạn thị trường.
Trong số các bên tổn thất nặng nề nhất trong một cuộc chiến thương mại có các nước châu Á mới nổi – các quốc gia đang cung cấp nguyên liệu thô và thành phẩm cho cả Trung Quốc lẫn các nước phương Tây. Khi quan sát từ trên không, số lượng tàu bè neo đậu quanh các cảng lớn ở Hong Kong, Singapore và Seoul thật đáng kinh ngạc. Nếu giao thương bắt đầu giảm sút, khu vực này sẽ rơi vào thời điểm khó khăn.
Các rào cản kinh tế chia tách Mỹ và Trung Quốc đang dâng lên nhanh. Nhưng tôi vẫn hi vọng những người đứng đầu rốt cuộc sẽ chấm dứt tình trạng này, không để cho một Vạn Lý Trường Thành nữa được dựng lên.
Cảm nhận được tình trạng thắt chặt
Chưa đến một tháng trước, chúng tôi còn đang thảo luận về một loạt bước đi của chính phủ Trung Quốc để tự do hóa lĩnh vực tài chính, và chính những biện pháp này đã giúp Trung Quốc đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường trái phiếu như thế nào. Mặc dù dòng vốn nước ngoài đầu tư đã giúp hâm nóng thị trường, tuy nhiên, thị trường trái phiếu Trung Quốc hiện đang đối mặt với trở lực kép: một là lãi suất toàn cầu đang tăng, và hai là Trung Quốc đang siết chặt tín dụng trong nước – nằm trong chiến dịch cải cách tài chính của nước này.
Lãi suất tăng là do các vấn đề quốc tế tác động, do vậy, chính phủ Trung Quốc không làm được gì nhiều để giải quyết tình trạng đó. Tuy nhiên, nỗ lực giảm thiểu rủi ro cho hệ thống tài chính quốc gia lại đang góp phần làm gia tăng các vụ vỡ nợ trái phiếu. Tâm điểm của các đợt vỡ nợ này nằm ở khu vực doanh nghiệp tư nhân, không phải ở khu vực doanh nghiệp nhà nước vốn đã được Bắc Kinh hậu thuẫn mạnh mẽ.
Theo số liệu của Wall Street Journal đã được Wind Info biên soạn lại, từ đầu năm đến nay, có tổng cộng 13 doanh nghiệp phát hành bị vỡ nợ, với tổng số tiền lên đến 20.2 tỷ Nhân dân tệ (RMB), tương đương 3.1 tỷ USD. Cùng kỳ năm ngoái, số vụ vỡ nợ là 11, với tổng trị giá 14 tỷ RMB (2.2 tỷ USD).
Giá trị các vụ vỡ nợ rất lớn. Gần đây, Tập đoàn CEFC Shanghai International Group Ltd – đơn vị con của Tập đoàn năng lượng CEFC của Trung Quốc, đã mất khả năng chi trả đối với 327 triệu USD tiền gốc và lãi cộng gộp. Còn vào ngày 7 tháng 5, Kaidi Ecological and Environmental Technology, một công ty về năng lượng sinh học, cũng đã không thanh toán nổi 698 triệu RMB (108 triệu USD).
Vỡ nợ gia tăng đã khiến các đơn vị phân tích phải hạ bậc xếp hạng. Theo Caixin, từ đầu năm 2018 đến nay, thị trường trái phiếu doanh nghiệp có đến hơn 40 công ty phát hành và 80 loại trái phiếu cụ thể bị hạ bậc, so với tổng số 95 trái phiếu bị hạ bậc trong cả năm 2017. Với việc có đến 8.2 nghìn tỷ RMB (tương đương 1.3 nghìn tỷ USD) trái phiếu doanh nghiệp và chính phủ địa phương đến hạn trong năm tới, chúng ta có thể sẽ còn chứng kiến thêm nhiều vụ vỡ nợ trong tương lai gần.
Tình trạng trái phiếu doanh nghiệp vỡ nợ ngày một nhiều, cộng thêm việc Trung Quốc đang thẳng tay cắt giảm nợ, đã bắt đầu khiến cho tâm lý nhà đầu tư bị đè nặng. Trong tháng Năm, chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu kho bạc Mỹ và trái phiếu Trung Quốc đã leo lên mức cao nhất trong vòng 2 năm qua, giữa lúc lo ngại vỡ nợ gia tăng. Tình hình càng thêm nguy cấp, khi các doanh nghiệp đã phát hành trái phiếu thì cũng đang nỗ lực kêu gọi thêm vốn. Doanh số cho vay để mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành mới đã giảm mạnh trong tháng 5 năm 2018, và cũng là lần sụt giảm đầu tiên kể từ tháng 6 năm 2017 đến nay.
Sự dịch chuyển cơ cấu nợ từ ngoại bảng sang nội bảng là một bằng chứng nữa cho thấy tình hình cho vay ở ngân hàng “ngầm” đã giảm trên diện rộng (Ngân hàng ngầm, shadow bank, là các định chế cung cấp tín dụng nhưng không phải ngân hàng, như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, quỹ đầu cơ, ...). Tổng các khoản vay ủy thác (entrusted loans - hình thức cho vay giữa các doanh nghiệp với nhau thông qua trung gian là ngân hàng), vay tín chấp và vay chiết khấu đã giảm 421.5 tỷ RMB trong tháng Năm.
Việc chính phủ Trung Quốc sẵn sàng để cho một vài doanh nghiệp phá sản là một dấu hiệu cho thấy sự dịch chuyển dần sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, trong trường hợp vỡ nợ lớn, chính phủ vẫn sẽ can thiệp, để tránh gây bất ổn cho thị trường tài chính. DunAn, tập đoàn đã phát hành 45 tỷ RMB (7 tỷ USD) trái phiếu, vẫn được xem là một doanh nghiệp đáng để đầu tư, cho đến thời điểm năm ngoái, khi doanh nghiệp suýt lâm vào tình trạng vỡ nợ. Nhờ vào sự can thiệp của chính quyền tỉnh Chiết Giang, doanh nghiệp đã vượt qua được tình cảnh trên.
Mặc dù hiện tượng vỡ nợ đang gia tăng, rủi ro hệ thống ở Trung Quốc vẫn ở mức thấp, khi tỷ lệ phá sản chỉ chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp (0.08% trong tổng số 4 nghìn tỷ USD). Nếu so với tiêu chuẩn ở các nước phương Tây, 0.08% là một con số khiêm tốn, nhưng vẫn là một con số đột biến, nếu so tình trạng im ắng trong quá khứ.

Chính quyền Trung Quốc đang thay đổi một số điều kiện, quy định nhằm giảm bớt nguy cơ vỡ nợ trong tương lai. Một trong số những điều chỉnh đó là cấm các định chế tài chính cho vay các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng không có tính khả thi về mặt kinh tế, hoặc các dự án được chính quyền bảo lãnh một cách bất hợp pháp.
Loại bỏ bảo lãnh ngầm trong các ‘sản phẩm quản lý tài sản’ cũng là một biện pháp cải cách chủ chốt. Trên thực tế, không một Ngân hàng ở Trung Quốc nào đảm bảo chính thức sẽ trả đầy đủ gốc và lãi cho nhà đầu tư đã mua các sản phẩm quản lý tài sản do Ngân hàng phát hành. Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ lại đang nhận thức sai lầm rằng bất kỳ một sản phẩm tài chính nào do ngân hàng phát hành cũng đều đi kèm một sự bảo đảm.
Phá sản là một dấu hiệu cho thấy thị trường tín dụng đang vận hành hiệu quả. Nếu như không có đến một vài các vụ vỡ nợ sau khi thị trường tín dụng đã tăng trưởng nóng suốt những năm vừa qua, thì đó là chỉ dấu cho thấy thị trường đang bị thao túng. Trong dài hạn, một tập hợp các quy định mới sẽ dẫn đến sự thay đổi về mặt hệ thống, từ đó giúp cho Trung Quốc kiểm soát được các rủi ro tài chính của mình. Và trong giai đoạn giao thời, các nhà làm chính sách Trung Quốc sẽ nhìn nhận hiện tưởng vỡ nợ như cái giá phải trả trong ngắn hạn để đạt được lợi ích về lâu về dài sau này.
Nguồn: FX Street – TQ
Từ khóa: Thuế quan, Trung Quốc, Mỹ, bảo hộ, hạn chế, tín dụng, trái phiếu
Các tin khác
- Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung: Nông sản Việt xuất khẩu có ảnh hưởng? - 27/06/2018
- Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung - Nguy cơ nhập siêu từ Trung Quốc sẽ tăng lên - 27/06/2018
- Tờ Nikkei tiết lộ lý do ông Kim Jong Un chọn Việt Nam là mô hình kinh tế lý tưởng cho Triều Tiên - 26/06/2018
- Báo Mỹ kêu gọi công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam - 26/06/2018
- Thủ tướng Malaysia muốn đàm phán lại thỏa thuận cấp nước “gây tranh cãi” với Singapore - 26/06/2018






















