JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếĐịnh hình về thỏa thuận thương mại tự do giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ

Định hình về thỏa thuận thương mại tự do giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ

logistics 111

Mặc dù việc đàm phán FTA là cả một quá trình dài, những những bước đầu tiên vẫn đòi hỏi các nước phải linh hoạt hơn cả trên phương diện đối nội lẫn đối ngoại.

Vấn đề cấp bách của Ấn Độ hiện tại là việc tạo ra việc làm mới cho người dân. Vì vậy, quốc gia này cần có một chiến lược thương mại rõ ràng để mở rộng các cơ sở sản xuất. Việc nền kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục đem lại cho Ấn Độ những cơ hội tiềm năng để mở rộng xuất khẩu. Tuy nhiên, với việc Tổ chức Thương mại Thế giới đang dần mất đi tiếng nói của mình, Ấn Độ cần có những hiệp định thương mại song phương với các quốc gia sở hữu thị trường lớn như là Hoa Kỳ.

Phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh Davos đầu tuần trước, lý giải về vấn đề chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi than phiền rằng, một trong số những nguyên nhân của hiện tượng này là do hiện tại không có bất kỳ cuộc đàm phán thương mại song phương hay đa phương nào được diễn ra. Các hiệp định thương mại giúp cắt giảm hoặc xóa bỏ các rào cản thuế quan, và khiến cho hệ thống quy tắc trở nên rõ ràng hơn.

Đầu tháng này, Đại sứ của Mỹ tại Ấn Độ, ông Kenneth Juster cũng đưa ra những phát biểu tương tự khi kêu gọi xúc tiến đàm phán một thỏa thuận thương mại tự do hoàn chỉnh giữa hai nền dân chủ lớn nhất thế giới.

Chúng ta hãy cùng điểm lại tình hình thương mại gần đây giữa Mỹ và Ấn Độ. Từ một mức khá thấp vào năm 2001 với 20 tỷ USD, giá trị thương mại giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ đã tăng trưởng một cách đáng kinh ngạc, lên đến 115 tỷ USD hiện nay. Tuy nhiên, con số này vẫn còn khá nhỏ so với tổng thể hoạt động ngoại thương của từng nước. Do đó, một trong những mục tiêu chính được xác định trong quan hệ chiến lược giữa Mỹ và Ấn Độ là đẩy mạnh giá trị thương mại hàng hóa và dịch vụ lên mức 500 tỷ USD trong 10 năm tới.

Ngoài ra, Mỹ cũng muốn quan hệ thương mại giữa hai nước phải cân bằng hơn. Điều này có nghĩa là, Hoa Kỳ muốn thâm hụt thương mại với Ấn Độ phải giảm xuống đáng kể bằng cách chú trọng nhiều hơn vào hoạt động xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao từ Mỹ sang Ấn Độ. Ở thời điểm hiện tại, thâm hụt thương mại giữa hai nước vào khoảng 30 tỷ USD.

Tuy nhiên, thay vì dựa vào giá trị thương mại của sản phẩm hoàn chỉnh, nếu xét đến khía cạnh giá trị gia tăng, thì tình trạng thâm hụt thương mại của Mỹ với Ấn Độ là cực kỳ thấp.

Dựa vào dữ liệu mới nhất về “Giá trị Gia tăng trong Thương mại” của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế phối hợp với Tổ chức Thương mại Thế giới (OECD-WTO), trong năm 2011, Hoa Kỳ phải chịu thâm hụt thương mại 15 tỷ USD với Ấn Độ, xét trên tổng giá trị thương mại giữa hai nước. Tuy nhiên, con số này chỉ còn khoảng 5 tỷ đô khi xét ở góc độ giá trị gia tăng trong thương mại.

Không những vậy, mặc dù Mỹ đang có xu hướng gia tăng thâm hụt thương mại với Ấn Độ khi xét trên tỷ lệ so với tổng giá trị thương mại song phương, nhưng kể từ năm 2003, dưới góc độ giá trị gia tăng, tình trạng thâm hụt đã giảm dần theo thời gian. Mặt khác, từ năm 1995 đến năm 2002, thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Ấn Độ cho thấy một xu hướng tích cực xét trên khía cạnh tổng kim ngạch thương mại song phương cũng như trên khía cạnh giá trị gia tăng.

Hiểu một cách đơn giản, đối với các hàng hóa xuất khẩu từ Ấn Độ sang Hoa Kỳ, giá trị gia tăng mà Ấn Độ tạo ra cho sản phẩm của mình là không nhiều, so với giá trị gia tăng mà Hoa Kỳ tạo ra khi xuất khẩu hàng hóa sang Ấn Độ.

Thứ hai, theo thời gian, các công ty Mỹ ngày càng tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn trong các giao dịch thương mại với Ấn Độ, nhiều hơn so với những gì các công ty Ấn Độ tạo ra.

Điều này cũng trùng khớp với một sự thật rằng các công ty Mỹ đang tập trung vào cả dòng chảy ngược chiều (upstream) cũng như thuận chiều (downstream) trong chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua việc cải tiến, đóng gói, tiếp thị, v.v trong khi các công ty Ấn Độ lại tập trung vào phần giữa của chuỗi cung ứng toàn cầu, phần mà có ít hoạt động tạo ra giá trị gia tăng hơn, chẳng hạn như lắp ráp.

Trong bối cảnh trên, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đằng sau lời kêu gọi về việc ký kết thỏa thuận thương mại giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ. Sau khi đảm nhận vị trí đại sứ Hoa Kỳ tại Ấn Độ, trong lần phát biểu đầu tiên trước công chúng, Đại sứ Kenneth Juster đã bày tỏ “khao khát” tạo ra một tầm nhìn rộng hơn cho thỏa thuận thương mại tự do giữa hai nền dân chủ lớn nhất thế giới. “[.] một tầm nhìn về mục tiêu mà chúng ta muốn đạt đến, có thể khơi dậy các giải pháp cho nhiều cuộc tranh chấp về thương mại và đầu tư đang diễn ra, cũng như ra hiệu cho các công ty quốc tế biết rằng Ấn Độ đang hoàn toàn mở cửa cho hoạt động kinh doanh.”

Ông Juster cũng cho biết rằng, ngoài thỏa thuận hạt nhân dân sự được ký kết vào năm 2008, FTA này có thể trở thành một đề án hàng đầu để phát triển sâu hơn mối quan hệ với Ấn Độ. Mặc dù có thể dễ dàng hiểu rằng đây là cả một quá trình dài, nhưng để tạo ra một tầm nhìn như vậy, các bên cần phải có một lộ trình rõ ràng, cùng với nhiều biện pháp xây dựng lòng tin. Đó là hai yêu cầu quan trọng ở thời điểm hiện tại.

Hệ thống quy định trong nước

Trong một thời đại của những hoạt động thương mại tạo giá trị gia tăng, thuế quan không còn là một nhân tố quyết định trọng yếu. Tại Mỹ, thuế quan đối với hầu hết các mặt hàng đều đã thấp và việc tiếp tục hạ thấp những rào cản này là điều không thực sự cần thiết. Tại Ấn Độ, mặc dù thuế quan vẫn còn khá cao nhưng cũng đang được chính phủ chủ động giảm xuống dần để tự do hóa nền kinh tế.

Hệ thống quy định trong nước – bao gồm các tiêu chuẩn, luật sở hữu trí tuệ, chính sách mua sắm công – đóng một vai trò quan trọng quyết định đến hoạt động thương mại quốc tế. Và trong bối cảnh mà thương mại dịch vụ có nhiều tiềm năng tăng trưởng nhanh hơn so với thương mại hàng hóa, thì hệ thống quy định trong nước lại càng quan trọng, vì lĩnh vực dịch vụ bị chi phối lớn bởi tính hiệu quả và tính ổn định của hệ thống quy định pháp luật. Ngay cả hàng hóa ngày nay cũng đang ngày càng được lồng ghép vào các dịch vụ.

Nguồn: The Wire - HN

Từ khóa: Hiệp định tự do thương mại, đàm phán, hệ thống tiêu chuẩn, rào cản phi thuế, Mỹ, Ấn Độ

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008791299
Go to top