
Trở ngại lớn nhất đối với sự thành công của tiến trình tái đàm phán hiệp định NAFTA có lẽ đang nằm ở việc Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), ông Robert Lighthizer, không thực sự theo đuổi chính sách tự do thương mại. Thay vào đó, ông nhấn mạnh rằng, chính quyền Trump đã sẳn sàng cho những rủi ro tổn thất về kinh tế khi theo đuổi chính sách thương mại công bằng, trên quan điểm bảo vệ lợi ích quốc gia.
Tại buổi gặp mặt giữa USTR và các nhà đồng cấp phía Mexico và Canada vào thứ 4 vừa qua, Lighthizer đã tuyên bố sẽ theo đuổi một chương trình cải cách NAFTA, gồm: giảm bớt hiệu lực của cơ chế giải quyết tranh chấp hiện hành, hạn chế lại quyền tiếp cận các hoạt động mua sắm của chính phủ, hàm lượng giá trị Mỹ trong ngành ô tô ít nhất là 50%, bổ sung điều khoản “hoàng hôn” 5 năm, cho phép Mỹ rút lui khỏi hiệp định, trong trường hợp số lượng công việc trong nước không được cải thiện như mong đợi của các nhà hoạch định chính sách cấp cao.
Đây không phải là tự do thương mại, mà là kiểm soát thương mại. Những đòi hỏi của ông Lighthizer cho thấy rằng, ông ta không đang theo đuổi chủ trưởng mở cửa thị trường để thúc đẩy tăng trưởng, thay vào đó, ông đang cứng rắn theo đuổi chủ trương thương mại công bằng. Thay vì tạo ra những cơ hội cạnh tranh, mục tiêu của ông là thiết lập một mức độ bảo hộ tối thiểu cho các ngành sản xuất nội địa. Thay vì cho phép sự cạnh tranh được tự do diễn ra, và đem lại những lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng, cách tiếp cận theo chủ nghĩa trọng thương của Chính quyền Trump lại dùng người tiêu dùng để trao đổi lấy việc làm trong nước. Họ tuyên bố rằng: nếu bạn muốn tiếp cận thị trường Mỹ, bạn phải đảm bảo nhường một thị phần tối thiểu cho các doanh nghiệp sản xuất ở Mỹ. Hoạt động thương mại kiểu này không phải là tự do, mà là đòi tiền chuộc, trong đó người tiêu dùng là con tin. Tuy nhiên, việc đảm bảo cho doanh nghiệp nội địa có được những thị phần cố định không đồng nghĩa sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho những doanh nghiệp này. Nó chỉ cao lắm là lảm giảm bớt nỗi sợ bị đánh bại.
Mục tiêu của cách tiếp cận này là nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia cho nước Mỹ. Ông Lighthizer đã cụ thể hóa mục tiêu này từ vài tháng trước, và những người phát ngôn đại diện cho văn phòng ông cũng thường xuyên nhắc lại mục tiêu này. Rõ ràng, cách tiếp cận này bị chi phối nặng nề bởi cảm tính. Dĩ nhiên, quyền lợi quốc gia là nguyên tắc quan trọng đối với mọi đất nước. Nhưng, đề cao yếu tố ấy ngay giữa bàn đàm phán thương mại chẳng khác gì đưa ra một lời ngụy biện nhằm chống lại hoạt động tự do thương mại.
Mỗi thỏa thuận thương mại là một chuỗi những đánh đổi giữa việc tăng cường khả năng tiếp cận thị trường và bảo vệ quyền lợi quốc gia. Bất kỳ hiệp định thương mại nào cũng kèm theo những cam kết tự nguyện từ bỏ bớt lợi ích quốc gia. Và do đó, khi tham gia vào một hiệp định thương mại, các quốc gia thường tuyên bố rằng: chúng tôi chấp nhận từ bỏ một số chính sách nhất định mà chúng tôi vốn được phép theo đuổi, ví dụ như áp đặt các rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan. Đổi lại, các đối tác cũng phải chấp nhận những đề nghị được đưa ra, hoặc đặt lên bàn đàm phán những ưu đãi tương xứng khi tiếp cận vào thị trường của họ. Nếu Lighthizer không có ý định đàm phán để hoạt động thương mại được tự do hơn, thì ông ta ngồi vào bàn đàm phán về tự do thương mại để làm gì?
Thiệt hại cho tất cả các bên
USTR đang đàm phán hiệp định NAFTA như thể thương mại là một trò chơi thắng thua. Tuần trước, tờ Wall Street Journal đã dẫn lại một tuyên bố rằng mục tiêu của USTR là khiến cho các công ty sản xuất ô tô ở Mexico “bị thiệt hại nhiều nhất có thể”. Tuy nhiên, nỗ lực của Mỹ trong việc kiềm hãm những công ty sản xuất phụ tùng ô tô ở các quốc gia thành viên NAFTA cũng sẽ gián tiếp gây thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất ở Michigan nhiều như ở Mexico. Từ những năm 1930, chính sách bần cùng hóa người láng giềng đã được chứng mình là sẽ dẫn đến hiện tượng tự bần cùng hóa bản thân.
Phất lên lá cờ lợi ích quốc gia để cổ vũ cho chính sách hạn chế thương mại nghe có vẻ hợp tình hợp lý, nhưng liệu nó có thực sự đem lại lợi ích cho nền kinh tế? Hãy cùng xét qua đề nghị về một quy tắc xuất xứ mới dành cho xe ô tô và các loại phụ tùng, một ràng buộc cứng nhắc về việc phụ tùng của Mỹ phải chiếm 50% trong mỗi chiếc xe, như những gì mà Wall Street Journal báo cáo. Hiện tại, các dòng xe ô tô chỉ yêu cầu phải chứa 62,5% phụ tùng từ cả ba quốc gia NAFTA để được hưởng ưu đãi miễn thuế khi tiếp cận thị trường.
Đề nghị của Lighthizer về một quy tắc xuất xứ mới có vẻ phù hợp với định nghĩa về công bằng thương mại, nhưng nó sẽ phá hủy hoàn toàn các chuỗi cung ứng hiện tại trong khối NAFTA. Điều này sẽ gây thiệt hại cho tất cả các bên, bởi vì các chuỗi cung ứng đang là lực đẩy quan trọng cho khu vực Bắc Mỹ trong lĩnh vực xuất khẩu xe hơi, tạo ra mức tăng trưởng 10% hàng năm trong suốt một thập kỷ qua. Khu vực Bắc Mỹ hiện đang chiếm 22% thị phần xuất khẩu xe hơi toàn cầu, tăng từ mức dưới 19% ở thập kỷ trước. Những gia tăng về thị phần và hiệu suất này chủ yếu bắt nguồn từ việc các công ty ô tô ở Mỹ được tự do mở rộng dây chuyền sản xuất vượt qua biên giới Canada, đến các thành phố như Windsor và Oshawa, hay vực qua sông Rio Grande, vào các thành phố như Silao và San Luis Potosi (Mexico)
Các chuỗi cung ứng khu vực, xuyên biên giới quốc gia, không phải là những hệ thống độc nhất mà chỉ riêng khu vực Bắc Mỹ mới có, và các doanh nghiệp ô tô Mỹ cũng không phải là chủ thể duy nhất ứng dụng hệ thống này. Nhiều công ty Nhật như Nissan, Honda và Mitsubishi cũng thiết lập những mối quan hệ tương tự với các nhà sản xuất ở Thái Lan, một mối quan hệ đã được củng cố mạnh mẽ từ 15 năm trước, sau khi chính phủ Thái xóa bỏ những quy định về sử dụng phụ tùng nội địa trong sản xuất xe hơi. Volkswagon cũng sở hữu một mối quan hệ tương tự với các quốc gia ở trung tâm Châu Âu như Phần Lan và Cộng Hòa Czech, chủ yếu để đối phó với áp lực về giá cả ở những quốc gia có thu nhập thấp như Tây Ban Nha. Sản lượng sản xuất của Volkswagon đã tăng gấp 4 lần trong giai đoạn 1992 – 2005.
Nếu các điều khoản về quốc gia trong qui tắc xuất xứ mới khiến cho việc duy trì chuỗi cung ứng ở khu vực Bắc Mỹ không còn khả thi, các doanh nghiệp ô tô có thể chuyển cơ sở sản xuất ra bên ngoài khu vực và chấp nhận trả thuế từ 2.5% đến 25% - một khoản phí mà cuối cùng sẽ được gánh chịu bởi người tiêu dùng Mỹ. Hoặc các doanh nghiệp Mỹ có thể đầu tư nhiều hơn vào hệ thống sản xuất bằng Robot. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, những mất mát của người lao động Mexico cũng không thể bù qua cho người lao động Mỹ.
Ngành công nghiệp ô tô Mỹ đang sở hữu năng suất cao hơn bao giờ hết, chủ yếu là nhờ vào tính hội nhập sâu rộng của chuỗi cung ứng ở khu vực Bắc Mỹ, tương tự như những nhà sản xuất ô tô hàng đầu ở các quốc gia khác như Nhật và Đức. Không đáng để người Mỹ phải hi sinh thành tựu này chỉ vì mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia.
Tác giả: Allan Golombek
Nguồn: Real Clear Markets - HN
Từ khóa: tự do, thương mại, NAFTA, quy tắc, xuất xứ, ô tô
Các tin khác
- Tăng trưởng được kết nối: ASEAN và Nam Á trong năm 2037 - 12/10/2017
- “Giấy thông hành” thế hệ mới để doanh nghiệp Việt vươn ra toàn cầu - 12/10/2017
- Nhiều lợi ích hơn trong thỏa thuận thương mại thách thức chủ nghĩa trọng thương theo kiểu Trump - 12/10/2017
- TPP không có Mỹ - Khó khăn cho Canada trong ký kết NAFTA - 12/10/2017
- Tăng cường quan hệ đối tác Việt Nam - EU trong bối cảnh nhiều thách thức - 11/10/2017






















