JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnTác động của luật kinh tế quốc tế đối với các nước đang phát triển là gì?

Tác động của luật kinh tế quốc tế đối với các nước đang phát triển là gì?

2 dich2 10.04.2024

Cũng giống như thời đại của Bretton Woods, luật kinh tế quốc tế là yếu tố trọng tâm để ngăn cản các chính sách không phù hợp tại mỗi quốc gia. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu luật pháp, các quy định và thể chế trong bối cảnh ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân, bất bình đẳng và bóc lột.

Đại dịch Covid-19 và cuộc khủng hoảng khí hậu cho thấy thế giới ngày nay được kết nối nhiều hơn về mặt kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử.

Chính sách, và việc thi hành chính sách ở một quốc gia có tác động, đôi khi rất nghiêm trọng, đến xã hội, môi trường và nền kinh tế của các quốc gia khác. Toàn cầu hóa kinh tế và thay đổi công nghệ ảnh hưởng đến cách các quốc gia, doanh nghiệp và cá nhân tiến hành trao đổi kinh tế, bao gồm thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư vốn và chuyển dịch tài chính.

Mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế xuyên biên giới và những diễn biến nêu trên cũng gây ra những tác động xã hội và môi trường. Ví dụ, điện thoại di động được tiêu thụ tại một quốc gia có thể được sản xuất nhiều khu vực địa lý khác nhau. Tương tự, nguyên liệu thô có thể được khai thác từ nước này để sản xuất thành sản phẩm tiêu dùng ở nước khác.

Điều này có nghĩa là người tiêu dùng tại những quốc gia hoặc cộng đồng nơi sản phẩm cuối cùng được phân phối sẽ không phải gánh chịu những tác động xã hội hoặc môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất - chẳng hạn như mức lương thấp, áp dụng tiêu chuẩn an toàn lao động dưới chuẩn hoặc ô nhiễm môi trường.

Những yếu tố đã nêu nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của hành động tập thể toàn cầu và luật kinh tế quốc tế - tập hợp các quy tắc và thể chế điều chỉnh các giao dịch kinh tế xuyên quốc gia.

Khi các cuộc thảo luận tập trung tìm hiểu cách thức luật kinh tế quốc tế giải quyết các vấn đề toàn cầu đương đại - chẳng hạn như quản lý chuỗi cung ứng, giải quyết tranh chấp thương mại, xử lý khủng hoảng nợ chính phủ và tài trợ chuyển đổi sang nền kinh phát thải các-bon thấp - điều quan trọng là phải xem xét cách di sản lịch sử của hệ thống pháp lý hiện tại ảnh hưởng đến vai trò nó trong quan hệ giữa các quốc gia.

Điều này sẽ cho phép chúng ta vượt ra ngoài cách tiếp cận của ngành kinh tế đối với luật pháp quốc tế, vốn thường bị giới hạn trong việc đo lường “tác động” của các luật và thể chế pháp lý đối với các chỉ số kinh tế, chẳng hạn như tăng trưởng, đầu tư và đói nghèo. Áp dụng cách tiếp cận nêu trên cũng sẽ cho phép chúng ta khám phá cách luật pháp được phát triển trong bối cảnh thuộc địa cùng những tác động không mong muốn của những quy định đã nêu trong thời đại hiện nay.

Bối cảnh thuộc địa

Sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia đã được thúc đẩy sau Thế chiến thứ hai. Các nhà lập kế hoạch thời hậu chiến đã tìm cách đặt ra các quy tắc cơ bản cho những giao dịch hàng hóa, dịch vụ và tài chính xuyên biên giới. Mục đích của việc này là nhằm ngăn chặn sự lặp lại các chính sách tư lợi đã dẫn đến cuộc Đại suy thoái cũng như xúc tiến quá trình tái thiết và phát triển sau chiến tranh.

Bộ ba tổ chức quốc tế được thiết lập tại hội nghị Bretton Woods ở New Hampshire năm 1944 – Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (sau này mở rộng thành Nhóm Ngân hàng Thế giới), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT, tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới, WTO) – vẫn là kiến trúc nền tảng của nền kinh tế thế giới ngày nay.

Hệ thống nêu trên được phát triển bởi những quốc gia chiến thắng trong Thế chiến thứ hai nhằm điều chỉnh các mối quan hệ thương mại và kinh tế khác giữa các nước này. Các quốc gia thuộc địa cũng như các nền kinh tế chưa tiến hành công nghiệp hóa gần như đứng ngoài những thiết chế đã nêu và sau đó tham gia vào hệ thống theo các điều khoản đã được các quốc gia phát triển định sẵn.

Các nhà lập kế hoạch thời hậu chiến đã không thiết lập một hệ thống riêng nhằm giải quyết những vấn đề dặc thù của các quốc gia mới giành độc lập cũng như của những nền đang phát triển trong thời kỳ hậu thuộc địa. Họ cũng không lường trước được tác động của các quốc gia mới này đối với nền kinh tế toàn cầu.

Thay vào đó, giới cầm quyền tại các nền kinh tế phát triển đã hạn chế hoạt động của những thành viên mới trong hệ thống kinh tế quốc tế để bảo vệ lợi ích kinh tế và địa chính trị mà họ đã tạo dựng. Không còn khả năng kiểm soát lãnh thổ một cách công khai đối với các quốc gia hậu thuộc địa, các đế quốc đã biến luật pháp quốc tế đã trở thành một cơ chế, thông qua đó, họ có khả năng tiếp tục tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thị trường tại những quốc gia thuộc địa cũ.

Ví dụ, cơ chế thương mại quốc tế sau thế chiến, đặc biệt là GATT và sau này là WTO, ưu tiên tự do hóa các lĩnh vực kinh tế mà các nước công nghiệp phát triển có lợi thế – sản phẩm công nghiệp, vốn và tiền tệ, các ngành dịch vụ và doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế đã nêu lại ngó lơ những lĩnh vực mà các nên kinh tế đang phát triển có thể hưởng lợi, chẳng hạn như nông nghiệp, dịch chuyển lao động và chuyển giao công nghệ (Akyüz, 2010).

Luật đầu tư quốc tế với nền tảng là luật tập quán quốc tế và các hiệp định đầu tư quốc tế (IIA), được tạo dựng để bảo vệ tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài, phần lớn là từ các nước phát triển. Tuy nhiên, cả tập quán quốc tế và các hiệp định đầu tư quốc tế đề không áp đặt hạn chế lên nhà đầu tư nước ngoài cũng hoạt động của họ ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chủ yếu là những nước đang phát triển (Sornarajah, 2021).

Sự bất cân xứng của luật kinh tế quốc tế đã trở nên rõ ràng sau thời điểm đại dịch Covid bùng phát toàn cầu. Các quy tắc của cơ chế đầu tư và thương mại quốc tế được chứng minh là đã hạn chế khả năng nhiều quốc gia tiếp cận vắc xin và các công nghệ y tế, đồng thời giới hạn khả năng các quốc gia này áp dụng các biện pháp y tế công cộng khẩn cấp, chẳng hạn như hạn chế đi lại và đóng cửa kinh doanh.

Đã có nhiều về trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước (ISDS) để đưa ra yêu cầu bồi thường chống lại quốc gia tiếp nhận đầu tư liên quan đến các biện pháp kinh tế và y tế công cộng mà những nước này đã áp dụng trong thời kỳ đại dịch, với lý do các biện pháp vừa nêu đã khiến họ tổn thất tài chính.

Trong khi đó, việc thiếu những quy định đầy đủ về tài chính và giải quyết các cuộc khủng hoảng nợ chính phủ đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính trầm trọng ở những nền kinh tế đang phát triển. Gánh nặng nợ toàn cầu hiện đang ở mức cao nhất kể từ khi số liệu nợ quốc gia được thống kê, trong đó các quốc gia đang phát triển chịu gánh nặng nợ cao nhất.

Điều này một phần là do thiếu một cơ chế tái cấu trúc và phá sản được thiết lập sẵn cho cho phép các quốc gia gánh nợ cơ cấu lại khoản nợ một cách phù hợp, bao gồm những khoản nợ đối với các chủ nợ tư nhân.

Luật đế quốc

Những diễn biến toàn cầu nêu trên phản ánh “các khuyết tật của luật pháp quốc tế”. Những khuyết tật này có nguồn gốc từ chủ nghĩa đế quốc, bao gồm việc hợp pháp hóa cuộc chinh phục thuộc địa trên cơ sở lý do bảo hộ và hỗ trợ cải thiện sinh kế của người dân thuộc địa (Linarelli et al, 2018).

Luật pháp quốc tế với kết cấu mang đậm quan điểm của luật gia Âu châu đã thiết lập cái được gọi là 'động lực của sự khác biệt' – sự không tương đồng giữa các nền văn hóa và dân tộc châu Âu và phi châu Âu, với cái trước được mô tả là 'văn minh' và cái sau là 'không văn minh' ( Anghie, 2005).

Cấu trúc nêu trên cho phép một nhóm quốc gia và cộng đồng sử dụng luật pháp quốc tế như một công cụ để biện minh cho việc thiết kế và áp dụng các quy tắc dành đặc quyền cho họ trong mối tương quan với những các nhóm khác khi tiến hành các hoạt động kinh tế xuyên biên giới. “Sứ mệnh văn minh hóa” này của luật pháp quốc tế đã trở thành bình phong giúp các cường quốc buộc những nền đang phát triển phải chấp nhận trật tự kinh tế quốc tế do họ kiến tạo bất chấp các điều khoản không bình đẳng, thường dưới chiêu bài phát triển kinh tế và giảm nghèo.

Để được coi là những người tham gia thực sự trong nền kinh tế toàn cầu, các nước đang phát triển phải “chơi theo cùng một quy tắc” của trò chơi hoặc phải đối mặt với việc bị loại khỏi cộng đồng “những quốc gia văn minh”. Trong bối cảnh lịch sử nơi các quy tắc và thể chế được phát triển bởi một nhóm các quốc gia, câu chuyện về “pháp quyền” có tác dụng hợp pháp hóa mạnh mẽ.

Ví dụ, việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài ngay cả khi họ có thể xung đột với lợi ích cộng đồng và môi trường tại quốc gia tiếp nhận đầu tư được coi là có thể chấp nhận được trong dài hạn vì sự đảm bảo về mặt pháp lý này sẽ tạo động lực cho đầu tư nước ngoài tiếp tục phát triển.

Các quyết định trọng tài trong những vụ kiện gần đây như Eco Oro v Colombia (2021) và Bear Creek v Peru (2018) chứng minh rằng những điều khoản trong các hiệp ước đầu tư tiếp tục ưu tiên các nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, hội đồng trọng tài trong những vụ nêu trên đã phán quyết quốc gia tiếp nhận đầu tư vi phạm luật đầu tư khi tiến hành thu hồi giấy phép hoạt động khai thác mỏ của nhà đầu tư nước ngoài do các vấn đề về môi trường và xã hội.

Những phán quyết buộc quốc gia tiếp nhận đầu tư bồi thường thiệt hại tài chính cho nhà đầu tư nước ngoài có thể dẫn đến “sự đóng băng về quyền lực pháp lý”. Theo đó, các quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể không ban hành hoặc thực thi các biện pháp quản lý hoặc chính sách lợi ích công do lo sợ có thể dẫn đến kiện tụng từ các nhà đầu tư đã nêu (Tienhaara, 2018).

Bên cạnh đó, trên thực tế, nhiều nước đang phát triển tiếp tục trả nợ cho các chủ nợ ngay cả khi họ không còn đủ khả năng thực hiện việc này. Trong các trường hợp khác, một số quốc gia buộc phải hạn chế chi tiêu cho các dịch vụ thiết yếu, chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe và giáo dục, để thực hiện trả nợ. Lý do là vì nếu những nước này vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vay thì thị trường quốc tế và các nhà tài trợ sẽ có cái nhìn bất lợi đối với họ về mặt tài chính.

Ngay cả khi các cơ chế giảm nợ chính thức được thiết lập - chẳng hạn như Sáng kiến đình chỉ dịch vụ nợ, Lệnh cấm thanh toán nợ do và Khung chung về xử lý nợ do G20 đề xướng – các quốc gia vẫn chần chừ sử dụng chúng do nguy cơ bị các cơ quan xếp hạng hạ cấp tín nhiệm chính phủ.

Các sáng kiến giảm nợ đẫ nêu cũng chưa cung cấp cơ chế giải quyết những khoản nợ giữa các quốc gia đối với cộng đồng chủ nợ tư nhân - những người thường không tham gia vào các sáng kiến tái cơ cấu nợ.

Cách nhìn mới về luật kinh tế quốc tế

Hiểu được vị trí của luật kinh tế quốc tế trong tiến trình lịch sử chủ nghĩa thực dân, sự bất bình đẳng và bóc lột là yếu tố trọng yếu giúp chúng ta định hình lại tương lai của ngành luật này.

Dù quá khứ của luật kinh tế quốc tế biến động như thế nào, điều cần thiết là chúng ta cần một bộ quy tắc và thể chế rõ ràng, công bằng để giải quyết các vấn đề toàn cầu. Lý do tồn tại của các quy định kinh tế quốc tế tại thời điểm diễn ra hội nghị Bretton Woods – nhằm ngăn chặn các chính sách kinh tế quốc gia mang tính phá hoại, tư lợi – vẫn còn mang tính thời sự trong thời điểm hiện nay.

Khi các quốc gia hậu thuộc địa tham gia vào nền kinh tế thế giới sau thời kỳ phi thực dân hóa, những nước này đã ủng hộ các quy định và thể chế mới công nhận chủ quyền của họ đối với tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi lãnh thổ, quyền phát triển cũng như sự phân phối lại nguồn lực toàn cầu.

Các nguyên tắc như công bằng giữa các thế hệ và trong cùng thế hệ, trách nhiệm chung nhưng chứa đựng sự khác biệt, đối xử đặc biệt và khác biệt, và có qua có lại được bổ sung vào các hiệp định quốc tế nhằm ghi nhận hoàn cảnh lịch sử và đương đại của các quốc gia đang phát triển. Tác động của những sự điều chỉnh này, mặc dù phản ánh những thành công nhất định nhưng vẫn còn phải tiếp tục điều chỉnh trước những diễn biến mang tính hệ thống trong luật kinh tế quốc tế.

Vấn đề vẫn là hoàn cảnh của các nước đang phát triển được coi là những ngoại lệ đối với chuẩn mực. Trên cơ sở đó, các ngoại lệ đã nêu có thể được giải quyết thông qua việc điều chỉnh hiện trạng thay vì sửa đổi các quy tắc bất đối xứng của luật kinh tế quốc tế.

Bên cạnh đó, cái gọi là “sự linh hoạt” này trong luật pháp quốc tế thường khó đạt được sự đồng thuận áp dụng khi các cường quốc cũng như những tập đoàn lớn lên tiếng phản đối. Ví dụ, các nước đang phát triển đã phải đấu tranh không mệt mỏi để đảm bảo được miễn trừ các quy định về sở hữu trí tuệ tại WTO nhằm cho phép sản xuất nhiều vắc xin Covid-19 hơn qua đó giải quyết tình trạng thiếu nguồn cung toàn cầu và khả năng tiếp cận nguồn vắc-xin.

Mặc dù đây là quyền miễn trừ được áp dụng theo quy định của WTO, nhưng đề xuất của các nước đang phát triển, như Ấn Độ và Nam Phi, đã bị Anh, Liên minh châu Âu và những nền kinh tế phát triển khác phản đối cho tới tận thời điểm năm 2022.

Các cường quốc tiếp tục thống trị các không gian hoạch định luật pháp quốc tế và quản trị toàn cầu. Ngoài ra, họ không muốn nhượng lại quyền kiểm soát và cải cách luật kinh tế quốc tế để mang lại lợi ích cho các nước đang phát triển. Cho đến khi thế giới nhận ra rằng luật pháp quốc tế là một phần của vấn đề hiện tại thì cơ chế này sẽ không thể là một phần của giải pháp cho vấn đề.

Nguồn: Economics Observatory

Từ khóa: luật kinh tế quốc tế, cường quốc, các nước đang phát triển, WTO

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008791538
Go to top