
Các thảo luận về vấn đề “Địa kinh tế” – các quốc gia sử dụng sức mạnh kinh tế để đạt được các mục tiêu địa chính trị - đang ngày càng tăng trong bối cảnh hàng loạt biện pháp trừng phạt của phương Tây đang áp lên nước Nga. Bài báo này giới thiệu một khuôn khổ mới nhằm giải thích tại sao một cường quốc trong hệ thống quốc tế có thể áp đặt quyền lực của mình trong mạng lưới kinh tế toàn cầu. Nhóm tác giả sẽ sử dụng khuôn khổ đã nêu để cung cấp một cái nhìn toàn diện về cách thức Hoa Kỳ có thể buộc các doanh nghiệp và chính phủ tại hàng loạt quốc gia giảm nhập khẩu hàng hóa từ Huawei - nhà cung cấp linh kiện hạ tầng công nghệ 5G Trung Quốc cũng như cách quốc gia hơn 1 tỷ dân có thể sử dụng dòng vốn vay và năng lực sản xuất xuất khẩu – một phần của Sáng kiến Vành đai Con đường do nước này đề xuất để buộc nhiều nền kinh tế phải nhượng bộ chính trị.
Thuật ngữ “Địa kinh tế” được hiểu là chính phủ các quốc gia sử dụng tiềm lực kinh tế trên nền tảng liên kết tài chính, thương mại hiện hữu để đạt dược những mục tiêu về địa chính trị và kinh tế. Tranh chấp giữa hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc đang biến vấn đề địa kinh tế kinh tế trở thành thông tin mang tính thường nhật, đồng thời định hình các lựa chọn chính sách tại nhiều quốc gia dân chủ cũng như độc tài. Những ví dự cụ thể bao gồm Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc, chính sách của Hoa Kỳ liên quan đến hạn chế sử dụng công nghệ 5G của Huawei tại phương Tây, và sử dụng vị trí thống trị của đồng USD trong hệ thống tài chính quốc tế để áp đặt hàng loạt trừng phạt đối với Nga.
Trong hai nghiên cứu quan trọng, Hirschman (1945, 1958) đã chỉ ra mối liên quan giữa cấu trúc thương mại quốc tế và động lực của các cường quốc cũng như thiết lập mối liên kết dọc và ngang trong cấu trúc đầu vào – đầu ra với vai trò là cơ sở cho khuôn khổ phát triển kinh tế. Trong một nghiên cứu mới (Clayton et al.2024), chúng tôi đã giới thiệu một cơ chế, theo đó, mô hình kết nối đầu vào-đầu ra của nền kinh tế toàn cầu sẽ giải thích tại sao các cường quốc địa kinh tế có thể sử dụng mối liên hệ kinh tế nhiều tầng lớp để gây sức ép đối với một đất nước cụ thể.
Trong mô hình đã nêu, một cường quốc như Hoa Kỳ có thể ép hàng loạt doanh nghiệp và chính phủ các quốc gia trong mạng lưới phải chấp nhận các biện pháp tốn kém để đưa cán cân sức mạnh toàn cầu nghiêng về phía mình. Các cường quốc địa kinh tế được định hình bởi khả năng thiết lập sức ép trên cơ sở hàng loạt biện pháp kinh tế, ví dụ như đe dọa trục xuất một quốc gia ương ngạnh khỏi hệ thống dịch vụ tài chính và nguồn cung sản xuất. Nhóm tác giả sẽ định hình chiến lược tối thượng của một cường quốc cũng như đưa ra các ví dụ về việc các siêu cường buộc những doanh nghiệp mục tiêu phải chấp nhận những thiệt hại trong kinh doanh, tiêu biểu như việc chấp nhận chi phí phụ trội đối với các loại hàng hóa hoặc lãi suất vay cao cũng như chấp nhận tổn thất khi bị áp thuế và những biện pháp hạn chế nhập khẩu.
Sự liên kết của nền kinh tế thế giới giúp nâng cao vị thế độc tôn của một siêu cường đối với một số lĩnh vực chiến lược. Bên cạnh đó, do tính phổ nhánh của của mạnh lưới kết nối, sức mạnh của một cường quốc trong những lĩnh vực trọng yếu có thể tác động đến các lĩnh vực khác và với nền kinh tế thế giới nói chung. Chúng tôi sẽ áp dụng khung phân tích nêu trên thông qua hai ví dụ tiêu biểu gồm: tác động ngoại sinh từ chính sách an ninh quốc gia trong khuôn khổ cạnh tranh Mỹ-Trung; và chính sách cho vay chính phủ trong Sáng kiến Vành đai và Con đường.
Mối đe dọa siêu cường đối với các quốc gia bạn bè và thù địch
Các cường quốc xây dựng quyền lực thông qua đe dọa trả đũa một đất nước ngang bướng, hướng trọng tâm trừng phạt đến hệ thống liên kết kinh tế của quốc gia này. Ví dụ, một đất nước bị áp trừng phạt có thể đang nhập khẩu nhiều mặt hàng chế biến và nguồn tài chính nước ngoài (Hình 1a). Nếu từng nhóm mặt hàng đã nêu bị kiểm soát đơn lẻ, tác động của việc trừng phạt không đáng kể. Tuy nhiên, nếu cả hai nhóm sản phẩm nêu trên đều bị hạn chế giao dịch, thiệt hại đối với đất nước bị áp trừng phạt sẽ rất đáng kể.
Hình 1. Hệ thống liên kết và các biện pháp trừng phạt kết hợp

Nhiều mối đe dọa trừng phạt có thể không thực tế hoặc thiếu hiệu quả. Nguy cơ trừng phạt thiếu thực tế khi một siêu cường không thể kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào. Sự không hiệu quả của các biện pháp đũa xảy ra khi quốc gia bị áp trừng phạt có thể dễ dàng tìm nguồn cung thay thế đối với vật liệu bị hạn chế xuất khẩu từ quốc gia siêu cường. Ví dụ, mối đe dọa từ việc Nga cắt nguồn cung khí tự nhiên không có nhiều ý nghĩa nếu quốc gia bị đe dọa có thể tìm được những nguồn cung thay thế khác.
Một cường quốc sử dụng đe dọa trừng phạt như công cụ nhằm buộc cộng đồng doanh nghiệp cũng như những nền kinh tế khác trong mạng lưới của họ phải chấp nhận áp dụng những biện pháp không mong muốn. Những biện pháp này bao gồm hạn chế chuyển tiền, tăng giá sản phẩm giao thương, chấp nhận chi phí cao đối với các khoản vay, kiểm soát giao thương và nhượng bộ chính trị.
Nhóm tác giả sẽ xây dựng luận thuyết dựa trên cấu trúc hệ thống quốc gia xoay quanh một siêu cường bao gồm những nước bạn bè và thù địch của cường quốc đó. Định nghĩa của chúng tôi về sự thân thiện không dựa trên nền tảng quốc tịch hoặc sự thân tình chính trị mà là cách thức một biện pháp có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích của một cường quốc. Ví dụ, Hoa Kỳ có thể coi ngành công nghệ sản xuất bán dẫn tại Hà Lan là không thân thiện khi nguồn cung của họ có thể gián tiếp tiếp sức cho những công nghệ nguy hiểm của Trung Quốc.
Vậy những lĩnh vực nào được coi là chiến lược?
Dán nhãn một hoạt động là “chiến lược đối với lợi ích quốc gia” thường bị lạm dụng trong hàng loạt chính sách kinh tế. Điều này có thể là mặt nạ che chắn cho mục đích bảo hộ và dân tộc chủ nghĩa tại một đất nước cụ thể. Sự lạm dụng là hiện hữu do thiếu một định nghĩa và khung chiến lược minh thị nhằm giải thích rõ ràng mục tiêu đằng sau của chính sách.
Trong khung phân tích đề xuất, nhóm tác giả sử dụng hai khái niệm liên quan đến quyền lực: quyền lực vi mô và quyền lực vĩ mô. Những lĩnh vực có tính chiến lược nếu chúng giúp gia tăng quyền lực của một cường quốc.
Một lĩnh vực chiến lược ở cấp độ vi mô hiện hữu khi lĩnh vực này giúp một siêu cường đưa ra những đe dọa hữu hiệu đối với các quốc gia, thể chế khác. Chúng tôi đề cập đến khái niệm quyền lực vi mô trên nền tảng tổng hợp về giá cả và khối lượng liên quan. Những lĩnh vực chiến lược sẽ cung cấp đầu vào cho những ngành khác và sẽ không dễ để thay thế những nguyên liệu này. Một số lĩnh vực, nguyên liệu đầu vào thường tồn tại dưới dạng vật chất nhất định, ví dụ như đất hiếm. Những lĩnh vực khác, tài nguyên thực tế hiện diện ở lợi thế cạnh tranh nội sinh cũng như vai trò thống trị nguyên bản. Ví dụ cụ thể trong trường hợp này là hệ thống thanh toán và bù trừ dựa trên đồng USD; với vai trò là người kiểm soát đồng USD, Hoa Kỳ có thể tạo ra những đe dọa về địa kinh tế. Hệ thống thanh toán bằng đồng USD phổ biến đến mức những quốc gia đứng ngoài lề hệ thống này thường có rất ít lựa chọn thay thế.
Quyền lực tổng hợp đối với các thể chế, quốc gia là nguồn gốc cho sự hình thành quyền lực vĩ mô của một siêu cường – khả năng thiết lập cán cân toàn cầu nhằm mang đến lợi ích cho họ. Một số lĩnh vực có tác động gián tiếp trên quy mô toàn cầu đến giá cả và khối lượng sản phẩm ở những lĩnh vực khác. Các lĩnh vực đã nêu được coi là vĩ mô vì nó hỗ trợ một cường quốc gây ảnh hưởng đến phần còn lại của thế giới – khu vực mà họ không thể tạo ra tác động trực tiếp. Nghiên cứu và công nghệ, đặc biệt là trong những ngành có tính chuyên biệt cao và ứng dụng quốc phòng là những lĩnh vực thuộc nhóm vĩ mô.
Hiểu về các biện pháp kiểm soát của Hòa Kỳ đối với Huawei
Nhóm tác giả xem xét đến trường hợp một siêu cường như Hoa Kỳ đã gây sức ép buộc hàng loạt quốc gia Âu châu ngừng sử dụng các nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc với lý do việc tiếp tục sử nguồn vật liệu sẽ gây ra quan ngại an ninh đối với Hoa Kỳ.
Được minh chứng ở hình 2, một siêu cường như Hoa Kỳ có thể gây áp lực buộc các doanh nghiệp và chính phủ tại quốc gia thứ ba hạn chế nhập khẩu nguyên vật liệu từ Huawei – doanh nghiệp Trung Quốc cung cấp hạ tầng truyền thông 5G cho dù việc tiếp tục nhập khẩu mang lại lợi ích đối với các tổ chức, đất nước sử dụng loại công nghệ đã nêu.
Hình 2 – An ninh của Hoa Kỳ và hạ tầng 5G từ Trung Quốc

Sự việc đã nêu cho thấy sức mạnh nội sinh phân nhánh thông qua sự hình thành chuỗi sản xuất. Nhóm tác giả giả định rằng công nghệ 5G có tính chiến lược bổ sung. Cụ thể khi một thiết chế cho rằng loại công nghê này giúp họ hoạt động hiệu quả hơn, sẽ có nhiều hơn các cá nhân tổ chức khác sẽ học tập và sử dụng công nghệ đã nêu. Tính bổ trợ là đặc trưng cơ bản của công nghệ thông tin nhưng đồng thời cũng hiện diện tại công nghệ tài chính tiêu biểu như các hệ thống thanh toán.
Hoa Kỳ đã sử dụng sức mạnh vĩ mô để buộc các quốc gia, tổ chức trong tầm ảnh hưởng của mình ngừng sử dụng công nghệ 5G của Huawei. Khi những thiết chế trong tầm ảnh hưởng của Mỹ hạn chế sử dụng công nghệ từ Trung Quốc, những công nghệ đã nêu sẽ không thể sử dụng rộng rài trong những lĩnh vực mà Hoa Kỳ không thể tác động trực tiếp, qua đó giúp tăng nhu cầu những sản phẩm sử dụng công nghệ Mỹ.
Hiểu về Sáng kiến Vành đai và Con đường
Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc cung cấp cho các quốc gia liên quan các gói hỗ trợ bao gồm khoản vay, dự án hạ tầng và nguyên vật liệu sản xuất. Thông qua Sáng kiến nệu trên, Trung Quốc thường đòi hỏi các nhượng bộ chính trị từ quốc gia tham gia cũng như giúp doanh nghiệp nội địa xứ Trung tiếp cận thị trường mới.
Chúng tôi sẽ mô hình hóa cách thức Trung Quốc có thể kết hợp khoản vay và xuất khẩu nguyên vật liệu để đổi lấy nhượng bộ chính trị (Hình 3). Nhóm tác giả, trong nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của Sáng kiến Vành đai và Con đường đến một quốc gia với hệ thống thực thi pháp luật yếu. Trong bối cảnh Trung Quốc chưa xây dựng được quyền lực địa chính trị, đất nước nhận hỗ trợ tài chính từ Sáng kiến nêu trên sẽ không có nhiều động lực hoàn trả khoản vay đã nhận. Tuy nhiên, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có thể đe dọa ngừng cung tiền hoặc giảm cung cấp nguồn nguyên vật liệu sản xuất nếu quốc gia nhận hỗ trợ từ chối trả nợ hoặc quốc hữu hóa hàng hóa, dự án liên quan. Mối đe dọa tổng hợp có tác động rất lớn đến hoạt động kinh tế của quốc gia tiếp nhận khoản vay hoặc hàng hóa từ Trung Quốc. Bên cạnh đó, nền kinh tế lớn nhất châu Á cũng hưởng một số lợi ích từ Sáng Kiến Vành đai và Con đường. Cụ thể, thông qua liên kết kinh tế, Trung Quốc có thể buộc đất nước nhận hỗ trợ nhượng bộ về chính trị, ví dụ như cùng chung chí hướng với xứ Trung trong vấn đề công nhận Đài Loan.
Hình 3. Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc

Tham khảo
Clayton, C, M Maggiori and J Schreger (2023), “A framework for geoeconomics”, NBER Working Paper No. w31852.
Hirschman, A O (1945), National power and the structure of foreign trade, Vol. 105, University of California Press.
Hirschman, A O (1958), The Strategy of Economic Development, New Haven: Yale University Press.
Kleinman, B, E Liu and S J Redding (2020), “International friends and enemies”, NBER Working Paper No. w27587.
Nguồn: CEPR
Từ khóa: Trung Quốc, địa kinh tế, lợi ích quốc gia
Các tin khác
- Các doanh nghiệp châu Âu chú ý thị trường năng lượng mới tại Trung Quốc, lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tăng trưởng trong bối cảnh khủng hoảng logistics toàn cầu - 18/03/2024
- Amitabh Kant: Ấn Độ sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ ba sau 5 năm nữa - 18/03/2024
- Tổng thư ký OAPEC: Kinh tế thế giới sẽ suy thoái sâu nếu không có dầu khí - 18/03/2024
- Thị trường… cái gì cũng tăng - 15/03/2024
- Nguy cơ Việt Nam là nước “siêu nhập khẩu” sản phẩm chăn nuôi? - 15/03/2024






















