JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Hội nhập và phát triểnTS.Bùi Hải Thiêm: Hoàn thiện pháp luật về môi trường tương thích với các cam kết quốc tế

TS.Bùi Hải Thiêm: Hoàn thiện pháp luật về môi trường tương thích với các cam kết quốc tế

mot so diem moi cua luat bao ve moi truong nam

Quốc hội có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật nhằm thực hiện các cam kết của Việt Nam theo các Hiệp định thương mại tự do. Nghiên cứu về lĩnh vực này, TS.Bùi Hải Thiêm, Viện Nghiên cứu lập pháp, cho rằng, các cam kết về môi trường theo hai Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đang đặt ra cho Quốc hội nhiều yêu cầu cao hơn ở phương diện “nội luật hoá” để pháp luật tương thích với các cam kết, đóng góp vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện các cam kết quốc tế đó.

TS.Bùi Hải Thiêm cho biết, với việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế thông qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có những FTA có tính chất thế hệ mới và tiêu chuẩn cao, Quốc hội cần đóng vai trò ngày càng chủ động, tích cực trong tiến trình đó. Những hiệp định này được ký kết nhân danh Nhà nước, có phạm vi cam kết rất rộng, chứa đựng các chế định phi thương mại (như lao động, môi trường,…) liên quan mật thiết, không tách rời với hoạt động thương mại, trong đó có những điều khoản liên quan đến “làm thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội”.

Vai trò của Quốc hội đối với các điều ước quốc tế như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu thể hiện tập trung chủ yếu ở hai hành vi pháp lý cơ bản, là phê chuẩn Hiệp định và “nội luật hoá” để các cam kết này phát huy hiệu lực và tác động trên thực tế, thông qua việc chuyển thể các cam kết này thành các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể liên quan, như cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. Trong bối cảnh đến nay Việt Nam đã có quan hệ “đối tác chiến lược” với 17 quốc gia và đã ký kết tham gia 16 FTA, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động hoàn thiện pháp luật của Quốc hội đối với các FTA thế hệ mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chế định môi trường với nội dung về bảo vệ môi trường trong CPTPP và EVFTA là một trong những chế định quan trọng, định hình thể chế phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia thành viên.

Do đó, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này đòi hỏi sự vào cuộc rất khẩn trương và quyết liệt của các cơ quan nhà nước có liên quan. Theo cam kết tại hai Hiệp định, Việt Nam phải nỗ lực xây dựng và hoàn thiện pháp luật, bảo đảm chính sách môi trường đáp ứng các tiêu chuẩn cao, nhằm mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Còn khoảng cách giữa pháp luật Việt Nam so với các cam kết về môi trường theo CPTPP và EVFTA

TS.Bùi Hải Thiêm nhấn mạnh, những nỗ lực của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đã được chuyển hoá thành nhiều nỗ lực lập pháp cụ thể. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2022 nhìn chung đã cập nhật được xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế về môi trường trên thế giới và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặt ra nguyên tắc trụ cột xem bảo vệ môi trường là “điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết” cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững và yêu cầu hoạt động bảo vệ môi trường “phải gắn kết với phát triển kinh tế”, “được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển”.

Đối chiếu các cam kết trong Hiệp định CPTPP, EVFTA với pháp luật môi trường nước ta, có thể thấy các quy định pháp luật hiện hành về cơ bản đã đáp ứng các nghĩa vụ trong bảo vệ môi trường, cụ thể là các quy định của pháp luật về các biện pháp, công cụ để bảo vệ môi trường thể hiện sự tương thích với yêu cầu trong các hiệp định, đáp ứng các nghĩa vụ đối với một số lĩnh vực cụ thể về môi trường.

Một trong các nội dung mới đáng chú ý, chưa có trong các FTA trước đây, là các cơ chế tự nguyện trong bảo vệ môi trường, với mục đích là khuyến khích việc áp dụng một cách tự nguyện bất kỳ cơ chế nào có thể đóng góp cho nỗ lực bảo vệ môi trường. Một số cơ chế có thể áp dụng hiện nay là: cơ chế kiểm toán; báo cáo; thưởng hay ưu đãi; chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, đối tác công tư. Những chính sách ưu đãi, hỗ trợ bảo vệ môi trường đã được lồng ghép quy định tại Chương XI Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã làm rõ hơn một số công cụ kinh tế, nguồn lực, ưu đãi nhằm khuyến khích cá nhân, tổ chức tự nguyện trong bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 còn quy định nguồn tiền do phát hành trái phiếu xanh sẽ được ưu tiên cho dự án đầu tư thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, dự án đầu tư mang lại lợi ích về môi trường áp dụng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, phát thải ít các-bon (điểm c khoản 2 Điều 150).

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có một chương riêng về ứng phó với biến đổi khí hậu (Chương VII) trong đó nêu rõ nghĩa vụ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (Điều 91), cũng như yêu cầu thực hiện biện pháp kiểm soát việc sản xuất, tiêu thụ và mua bán những chất làm suy giảm hoặc biến đổi tầng ô-zôn (Điều 92). Những quy định này tương thích với Điều 20.5.1 CPTPP và khoản 2 Điều 13.6 EVFTA….

Tuy nhiên, các quy định trên vẫn còn có khoảng cách nhất định so với yêu cầu xây dựng thị trường các-bon “với cơ chế định giá hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế” của CPTPP và EVFTA. Điểm hạn chế lớn nhất là chưa nêu được các nguyên tắc chủ đạo trong việc xây dựng và phát triển thị trường này, cũng như thể hiện được nguồn gốc của các nguyên tắc và mô hình thị trường các-bon mà Việt Nam đang hướng tới là tương thích với xu hướng quốc tế.

Bên cạnh đó, còn một số hạn chế trong việc đáp ứng các yêu cầu cam kết: Việc phòng ngừa, kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường ở nước ta còn nhiều lúng túng, sự phối hợp chưa hiệu quả do các quy định trong Luật Bảo vệ môi trường chưa rõ ràng về bản chất, loại hình, cấp độ, trách nhiệm phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả. Điều này ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng các yêu cầu về phòng ngừa, kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường trong Hiệp định CPTPP và EVFTA. Luật Đa dạng sinh học năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2018 có sự chồng chéo với rất nhiều văn bản luật khác cũng điều chỉnh cùng nội hàm về đa dạng sinh học như: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Luật Tài nguyên nước, Luật Thủy sản, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo... và kèm theo đó là các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành cho các luật trên. Điều này tạo ra sự khó khăn trong quá trình áp dụng, tuân thủ và phổ biến pháp luật, cũng như tạo ra sự chồng chéo về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước.

Một điểm hạn chế nữa là mức độ đáp ứng đối với yêu cầu của CPTPP và EVFTA về mô hình quản lý chất thải, đòi hỏi chuyển đổi sang nền kinh tế ít phát thải và có sức chống chịu. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã nhấn mạnh yêu cầu lồng ghép mô hình này vào xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội (khoản 11 Điều 5), nhưng Luật mới chỉ dừng lại ở việc coi đây là một nội dung của công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường….

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường

Để khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay và để thúc đẩy việc thực thi các cam kết về bảo vệ môi trường trong các Hiệp định CPTTP và EVFTA, đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách bên tham gia Hiệp đinh, đồng thời vì sự phát triển bền vững của chính Việt Nam, TS. Bùi Hải Thiêm cho rằng, trong thời gian tới, Việt Nam cần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó trọng tâm chú trọng một số nội dung sau:

Thứ nhất, thực hiện cách tiếp cận “bắt buộc” thay vì “tự nguyện” trong ứng phó biến đổi khí hậu, có sự kiểm tra và giám sát quốc tế với các chỉ tiêu cụ thể trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam (cập nhật năm 2020) để giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK): Hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế đấu thầu cạnh tranh trong ngành điện; Hoàn thiện khung pháp lý nhằm khuyến khích và thu hút đầu tư trong và ngoài nước, huy động thành phần kinh tế doanh nghiệp; khung pháp lý liên quan đến mô hình hợp tác công tư (PPP) trong các lĩnh vực liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) trong đó có ngành năng lượng;  Sớm ban hành hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng BĐKH, hệ thống kiểm kê KNK tại Việt Nam; Mở rộng cho khối tư nhân tham gia đầu tư vào hệ thống giao thông công cộng; Sửa đổi, bổ sung một số chính sách thuế, như thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường... nhằm khuyến khích tái sử dụng, tái chế xử lý chất thải và thu hồi năng lượng từ chất thải, áp dụng công nghệ xử lý chất thải thân thiện với môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; Sớm ban hành Nghị định của Chính phủ về cam kết giảm phát thải KNK.

Thứ hai, cần triển khai nghiên cứu và luật hoá các quy định về quyền tiếp cận nguồn gen thuộc chủ quyền quốc gia; trách nhiệm tạo điều kiện cho việc sử dụng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) phù hợp với pháp luật trong nước; thẩm quyền quản lý và chế tài xử phạt; chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen; ngăn chặn sự biến mất và giảm áp lực về ĐDSH trong bối cảnh hoạt động thương mại; quy định về bản chất, loại hình, cấp độ, trách nhiệm phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường; các nguyên tắc chủ đạo trong việc xây dựng và phát triển thị trường các-bon mà Việt Nam đang hướng tới là tương thích với xu hướng quốc tế; quy định trong luật cơ chế định giá các-bon sự tham gia của những chủ thể được xác định rõ ràng; trong đó, yêu cầu về tính công khai, minh bạch của hệ thống cơ sở dữ liệu cần được đặt ra và đảm bảo thực thi; áp dụng hình thức chế tài hành chính đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện báo cáo không trung thực phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK theo quy định; nghiên cứu và xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp nhằm khuyến khích doanh nghiệp và người dân tham gia thực hiện việc kiểm soát lượng giảm phát thải từ các chương trình, dự án của từng lĩnh vực cụ thể.

Thứ ba, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 về mặt chủ thể được cung cấp thông tin môi trường, theo đó bổ sung chủ thể là người nước ngoài, người không có quốc tịch sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ thể cung cấp thông tin cần được quy định thêm đối với doanh nghiệp có nghĩa vụ kiểm kê KNK, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có HFC (hydrofluorocarbon). Nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ dừng lại ở cung cấp thông tin mà còn phải đảm bảo tính chính xác, minh bạch và hiệu quả của thông tin.

Thứ tư, nghiên cứu xây dựng các cơ chế và phương thức tham vấn về môi trường ở các cấp (cấp cộng đồng, cấp chuyên gia, cấp Chính phủ) nhằm đảm bảo năng lực thực thi cơ chế tham vấn theo quy định tại Hiệp định./.

Nguồn: Quốc hội

Từ khóa: pháp luật môi trường, cam kết quốc tế

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Hội nhập và phát triển

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Lượt truy cập

008793481
Go to top