Mặc dù gần đây, các khái niệm về kinh tế số cũng được phổ biến nhiều trên các phương tiện truyền thông, nhưng mô hình ước tính của kinh tế số vào GDP còn nhiều cách hiểu, phương pháp luận khác nhau. Bài viết trao đổi về phương pháp luận đo lường kinh tế số của một số đơn vị tư vấn quốc tế, phương pháp tiếp cận cho Việt Nam và các địa phương, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm xác định giá trị kinh tế số vào tăng trưởng GRDP các địa phương và GDP quốc gia.
Đặt vấn đề
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, những khái niệm như: chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số lần đầu tiên được đề cập và cũng được nhấn mạnh nhiều lần trong mục tiêu, quan điểm phát triển.
Với một trong ba đột phá chiến lược là xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, văn kiện Đại hội Đảng đã nhấn mạnh một yếu tố rất mới, đó là chú trọng phát triển hạ tầng thông tin viễn thông tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số và xã hội số.
Mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế số trong văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ: Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số, kinh tế số đạt khoảng 30% tổng sản phẩm trong nước (GDP) và đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử và kinh tế số.
Mặc dù gần đây, các khái niệm về kinh tế số cũng được phổ biến nhiều trên các phương tiện truyền thông, nhưng mô hình ước tính của kinh tế số vào GDP còn tồn tại nhiều cách hiểu, phương pháp luận khác nhau.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (UNCTAD), ước tính giá trị của nền kinh tế số toàn cầu dao động trong khoảng 4,5% đến 22,5% GDP thế giới. Nghiên cứu của Huawei và Oxford Economics (2017) ước tính rằng nền kinh tế số chiếm 18,4% GDP ở các nền kinh tế tiên tiến nhưng đạt 10% GDP ở các nước đang phát triển.
Theo báo cáo kinh tế số của khu vực ASEAN của liên danh tư vấn Temasek, Google, Bain (Google, Temasek và Bain Company, 2020), nền kinh tế số của 6 quốc gia (Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Việt Nam) đóng góp 3,7% vào GDP, trong đó, tại Việt Nam, kinh tế số đóng góp vào 16% GDP (dự báo đến 2025, kinh tế số đóng góp 29%).
Tuy nhiên, việc đo lường quy mô GDP của kinh tế số rất phức tạp bởi khó khăn trong việc xác định ranh giới, thiếu dữ liệu đáng tin cậy và đan xen trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế để thống kê chính xác.
Phương pháp luận đo lường kinh tế số của một số đơn vị tư vấn quốc tế
Nghiên cứu của tập đoàn tư vấn McKinsey Global Institute (MGI)
Theo các chuyên gia của McKinsey, trong số ba phương pháp có thể để tính GDP thì phương pháp tổng chi tiêu là được lựa chọn để tính GDP của kinh tế số (GDP = C + I + G + NX). Theo đó, các thành phần chỉ tiêu được quy định như sau:

Trong đầu tư tiêu dùng của các nhà đầu tư, chi phí đầu tư của khu vực tư nhân vào công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) được ước tính. Vốn đầu tư vào CNTT&TT được ước tính dựa trên tổng mức đầu tư của khu vực tư nhân, bao gồm cả phần đầu tư vào CNTT&TT trong tổng mức đầu tư. Vốn đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực CNTT&TT được tính bằng sản phẩm của tổng chi phí R&D và phần đầu tư vào R&D trong lĩnh vực CNTT&TT.
Trong chi tiêu Chính phủ, mức chi tiêu công cho phần mềm, phần cứng, hệ thống trung tâm dữ liệu, lĩnh vực truyền thông và dịch vụ CNTT đã được đánh giá. Việc tính toán dựa trên ước tính của Công ty tư vấn và nghiên cứu toàn cầu Gartner về chi tiêu công cho CNTT theo quốc gia.
Trong xuất khẩu ròng, xuất khẩu ròng hàng hóa và dịch vụ kỹ thuật số, cũng như xuất khẩu ròng của thương mại điện tử trong phân khúc cơ sở (B2B) và nhân khẩu học (B2C) được ước tính dựa trên dữ liệu của UNCTAD cho các loại sản phẩm sau: máy tính và phần cứng ngoại vi, thiết bị viễn thông, điện tử tiêu dùng và linh kiện điện tử, dịch vụ truyền thông.
Nghiên cứu của Tập đoàn tư vấn Boston Consulting Group (BCG)
Phương pháp tính GDP kinh tế số của các nước G20 được BCG cùng với Google phát triển vào năm 2010. Để tính toán đóng góp của nền kinh tế số vào GDP, các chuyên gia BCG đã sử dụng phương pháp tổng chi tiêu để tính toán GDP.

Chi tiêu tiêu dùng của cá nhân bao gồm mua thiết bị CNTT&TT của người dân, mua hàng hóa trên Internet và thanh toán cho truy cập Internet. Chi phí thiết bị truy cập được ước tính dựa trên tỷ lệ chi phí thiết bị truy cập (máy tính, điện thoại di động, bộ định tuyến...). Tỷ lệ chi phí thiết bị truy cập tương đương với tỷ lệ phần trăm thời gian người dùng sử dụng trực tuyến và tổng thời gian sử dụng một loại thiết bị cụ thể.
Chi phí của các nhà đầu tư bao gồm các khoản đầu tư của các nhà khai thác viễn thông để phát triển Internet di động và cố định và đầu tư của các công ty tư nhân khác trong các thiết bị truy cập Internet. Khối lượng đầu tư của các nhà khai thác viễn thông vào GDP được ước tính dựa trên tỷ lệ đầu tư nhằm phát triển Internet di động và cố định.
Khối lượng đầu tư của các công ty khác vào truy cập Internet được ước tính là một phần chi phí thiết bị truy cập Internet. Chỉ số này tương đương với tỷ lệ phần trăm thời gian sử dụng các thiết bị để truy cập Internet và tổng thời gian sử dụng thiết bị.
Chi tiêu của Chính phủ bao gồm chi phí phần cứng, phần mềm, viễn thông và dịch vụ cơ sở hạ tầng. Chi phí thiết bị CNTT&TT được tính là giá trị chi tiêu và chia sẻ chi phí thiết bị CNTT&TT và được tính theo tỷ lệ thời gian sử dụng thiết bị truy cập Internet vào tổng thời gian sử dụng thiết bị.
Xuất khẩu ròng được tính là xuất khẩu ròng thiết bị CNTT&TT và dịch vụ kỹ thuật số, cũng như xuất khẩu ròng liên quan đến thương mại điện tử. Khối lượng xuất khẩu ròng thiết bị CNTT&TT được tính toán dựa trên tổng khối lượng xuất khẩu ròng và tỷ trọng thiết bị CNTT&TT trong đó. Tỷ trọng xuất khẩu ròng thiết bị CNTT&TT trong tổng giá trị xuất khẩu ròng bằng tỷ lệ phần trăm thời gian sử dụng thiết bị để truy cập Internet và tổng thời gian sử dụng thiết bị.
Nghiên cứu của liên danh tư vấn Google, Temasek and Bain Company đối với nền kinh tế internet của ASEAN
Thực hiện phân tích các xu hướng và dự báo mức độ đóng góp của kinh tế internet vào GDP dựa trên tổng giá trị giao dịch của 7 lĩnh vực ở từng quốc gia: (1) Thương mại điện tử; (2) Phương tiện truyền thông trực tuyến; (3) Vận chuyển và thực phẩm; (4) Du lịch trực tuyến; (5) Dịch vụ tài chính; (6) Công nghệ trong sức khỏe; (7) Công nghệ trong giáo dục.

Ngoài ra, một số cách tiếp cận khác nhau để đo lường nền kinh tế số có thể được tìm thấy trong tài liệu khác. Theo đó, đóng góp của kinh tế số vào GDP (Sedik et al., 2019), tập trung vào một số lĩnh vực trực tuyến quan trọng (ví dụ: du lịch trực tuyến, truyền thông trực tuyến, gọi xe, thương mại điện tử và dịch vụ tài chính kỹ thuật số), bao gồm giá trị gia tăng của lĩnh vực CNTT&TT vào các lĩnh vực còn lại của nền kinh tế.
Hiệp hội các nhà cung cấp di động toàn cầu (GSMA) áp dụng cách tiếp cận rộng rãi để đánh giá giá trị gia tăng của hệ sinh thái di động, với ước tính đạt được thông qua việc sử dụng công nghệ di động. Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) đo lường kinh tế số dựa trên các số liệu giá trị về: hạ tầng CNTT&TT; mức độ sử dụng CNTT&TT của cá nhân; đóng góp của thương mại điện tử...
Sự khác biệt về chỉ số đánh giá của các nghiên cứu do có nhiều khái nhiệm khác nhau về kinh tế số và khác nhau về phương pháp tính. Điều này có tác động không nhỏ đến việc sử dụng số liệu thống kê kinh tế số phục cho dự báo, định hướng phát triển của từng quốc gia.
Hơn nữa, chỉ số đánh giá còn đặc biệt quan trọng đối với tăng năng suất lao động, đó là chìa khóa để thúc đẩy tăng trưởng quốc gia trong dài hạn.
Phương pháp tiếp cận cho Việt Nam và các địa phương
Phương pháp tiếp cận thống kê giá trị gia tăng của kinh tế số đối với GDP của Việt Nam trong đề xuất này được hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực thống kê kinh tế số và có thể được sử dụng để tính toán chỉ số GRDP của các địa phương (phương pháp tính và nội dung tính của chỉ tiêu GDP và GRDP là hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau ở phạm vi tính toán. GDP tính trên phạm vi quốc gia, GRDP tính trên phạm vi của một tỉnh/ thành phố cụ thể).
Cách tiếp cận được đề xuất bao gồm các thuật toán để phân tách dữ liệu theo các thành phần tính toán tổng giá trị gia tăng theo nhóm hoạt động (đối với tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ - dựa trên chia sẻ doanh thu của các loại hoạt động kinh tế tương ứng; đối với tiêu dùng trung gian - dựa trên tỷ lệ tiêu thụ trung gian được tính trong tài khoản sản xuất ở cấp độ của nhóm tổng hợp tương ứng), giúp có thể có được ước tính chính xác về các chỉ số này.
Tỷ trọng tổng giá trị gia tăng của kinh tế số trong GDP được tính như sau:

Trong đó:
shGVADS (Share Gross Value Added Digital Sector) là tỷ trọng tổng giá trị gia tăng của lĩnh vực kỹ thuật số trong tổng giá trị gia tăng của tất cả các ngành công nghiệp của quốc gia theo giá hiện hành cơ bản.
GVADS là tổng giá trị gia tăng của lĩnh vực kỹ thuật số.
GVA là tổng giá trị gia tăng của tất cả các ngành công nghiệp của quốc gia theo giá hiện hành cơ bản.
Tổng giá trị gia tăng của lĩnh vực kỹ thuật số được tính như sau:
GVADS = ODS - ICDS
Trong đó:
ODS ( Output Digital Sector) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ, siêu nhỏ và các hộ kinh doanh có hoạt động chính trên lĩnh vực kỹ thuật số. ODS được tính như sau:

Oi: giá trị hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh có hoạt động chính về kỹ thuật số của i ngành có trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA).
Oj: giá trị hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh trong j ngành không hoạt động chính về kỹ thuật số có trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)
αj: tỷ trọng giá trị hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ, siêu nhỏ và các hộ kinh doanh thuộc loại hoạt động kinh tế tương ứng trong lĩnh vực kỹ thuật số trong tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ của i ngành trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA). αj được tính như sau:

Các tin khác
- Thực thi mục tiêu phát triển trong trạng thái bình thường mới - 14/07/2021
- TP.HCM giữ đà tăng trưởng kinh tế giữa 'vòng xoáy' dịch COVID-19 - 13/07/2021
- Thiết lập cơ chế đặc thù để TP.HCM trở thành trung tâm tài chính quốc tế - 09/07/2021
- Phát triển kinh tế số ở Việt Nam: Thách thức và gợi ý giải pháp - 07/07/2021
- Mục tiêu tăng trưởng 6,5% phụ thuộc những yếu tố nào? - 06/07/2021



