JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Chuyên đềHiệp định đang đàm phánTPP như bộ quy tắc kinh tế quốc tế

TPP như bộ quy tắc kinh tế quốc tế

TPP-standards

Cuối cùng thì Hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương đã đạt được. Bài viết này xem xét các quy tắc được TPP thiết lập và liệu nó có xứng đáng để được gọi là một “Thỏa thuận thương mại tự do thế kỷ 21” hay không.

Nhiều người cho rằng rằng sự thành công hay thất bại của hiệp định 12 quốc gia nằm ở nội dung thủ tục giải quyết tranh chấp.

Chỉ có 12 quốc gia đàm phán TPP, nhưng nó đã phải trải qua rất nhiều biến cố, với mối quan hệ chính trị thương mại đan xen, đối đầu, giữa nền kinh tế lớn tiên tiến với các nền kinh tế mới nổi, xuất khẩu so với nhập khẩu trong thương mại nông nghiệp, và các nước kinh tế thị trường so với các nước chủ nghĩa tư bản nhà nước. Kết thúc thành công của hiệp định TPP, một sáng kiến ​​tự do hóa thương mại đầy tham vọng, chắc chắn là một sự kiện đáng mừng. Nó đã đạt được bất chấp những khó khăn khác nhau và được đưa ra tại một thời điểm vòng đàm phán Doha trong khuôn khổ WTO không có dấu hiệu của sự hy vọng. Toàn văn hiệp định TPP vẫn chưa được công khai nhưng dưới đây là phác thảo về bộ quy tắc quy tắc mới dựa trên các bản tóm tắt của thỏa thuận và lời giải thích được phát hành bởi các chính phủ của các nước thành viên TPP và bổ sung thông tin từ các phương tiện truyền thông.

TPP và những khiếm khuyết của WTO

Tại thời điểm kết thúc hiệp định TPP, các nguyên thủ bao gồm Akira Amari, thủ tướng Nhật Bản phụ trách của TPP, nhiều lần gọi đây là một "thỏa thuận thế kỷ 21". Theo định nghĩa này, TPP là một thỏa thuận để thúc đẩy thương mại hàng hóa bán thành phẩm cũng như dòng chảy quốc tế của lĩnh vực dịch vụ, dữ liệu, con người, và công nghệ. Nó vượt xa thương mại hàng hóa thành phẩm dựa vào sự phân công lao động và dựa trên lý thuyết về lợi thế so sánh. Thương mại hàng hóa trung gian và bán thành phẩm đã được phát triển cùng với sự tiến bộ của thông tin và công nghệ truyền thông (ICT) khiến nhiều công ty tách riêng các tiến trình sản xuất của họ và dẫn đến sự phát triển của chuỗi cung ứng quốc tế. Richard Baldwin gọi đây là chuỗi của "mối quan hệ thương mại-đầu tư-dịch vụ- tài sản trí tuệ", (Baldwin năm 2012) và một thỏa thuận được thiết kế để tạo thuận lợi cho sự hình thành các mối quan hệ như vậy thì có nghĩa là một thỏa thuận thế kỷ 21.

Các hiệp định WTO có những khiếm khuyết quan trọng trong quy định tạo thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh tại các thị trường nước ngoài mà kèm với việc phân chia tiến trình sản xuất. Ví dụ, vị thế của WTO không thể đảm bảo cho việc tự do hoá và bảo hộ đầu tư trực tiếp và gián tiếp, cạnh tranh công bằng ở nước chủ nhà, tạo sự thuận lợi cho việc triển khai nhân sự điều hành và kỹ sư từ trụ sở chính ở trong nước. Tất cả những thứ này đều là những yếu tố rất quan trọng cho thành công của các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Việc tự do hóa dịch vụ (ví dụ như dịch vụ tài chính, hậu cần) cần thiết cho sự phát triển chuỗi cung ứng đã chỉ diễn ra ở một mức độ hạn chế vì Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) tiếp cận theo danh sách cho trước, và chỉ tự do hóa những khu vực và cách thức cung cấp được liệt kê cụ thể như là thỏa thuận giữa các thành viên WTO. Để thúc đẩy sự di chuyển hàng hóa bán thành phẩm quốc tế và thuê ngoài qua biên giới, thương mại thuận lợi – ví dụ như quy định đơn giản và minh bạch hóa các thủ tục hải quan, đang trở nên quan trọng hơn, nhưng đây lại là một lĩnh vực được coi là khiếm khuyến hay là điểm yếu của WTO.

Hiệp định TPP có các quy định cần thiết cho sự phát triển của chuỗi cung ứng chưa từng có trong các hiệp định WTO, chẳng hạn như những người quản lý đầu tư, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tạo thuận lợi cho thương mại, thương mại điện tử, quyền đi lại giữa các nước của doanh nhân, và sự gắn kết các quy định. Ngoài ra, TPP còn đòi hỏi có một bộ tiêu chuẩn bảo hộ sở hữu trí tuệ thống nhất ở mức độ cao nhất có thể. Hơn nữa, để phù hợp với các yêu cầu của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và GATS, hiệp định TPP đặt ra các quy tắc chi phối tiếp cận thị trường cho hàng hóa và dịch vụ một cách tự do hóa "cơ bản là thương mại" trong nội khối.

TPP là một thỏa thuận thế kỷ 21 hay chỉ là một phiên bản mở rộng của FTA kiểu Mỹ?

Chúng ta có thể gọi TPP một thỏa thuận thế kỷ 21 hay không?. Có thể là hơi quá, nhưng tôi dám nói là "không", nhận định này dựa trên bản tóm tắt của thỏa thuận và tập trung xem xét các lĩnh vực mà có yêu cầu cải tiến.

Đầu tiên, chương gắn kết các quy định mặt dù có nhiều cố gắng nhưng đã thất bại trong việc đưa ra được sự gắn kết quy định tốt nhất trong thực tiễn và đánh giá tác động của chúng.

Thay vào đó, TPP chỉ kêu gọi sự hợp tác và nỗ lực để thực hiện điều này, mà không có bất cứ cam kết hay chế tài xử lý nào. Điều tương tự cũng lặp lại trong chương Tạo thuận lợi cho cạnh tranh và kinh doanh, chương Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SOEs).

Thứ hai, xét về bản tóm tắt của thỏa thuận, TPP, về mặt cấu trúc và điều khoản, chỉ nhỉnh hơn so với một phiên bản FTA mở rộng và các hiệp ước đầu tư gần đây của Mỹ với 15 quốc gia khác (Đặc biệt là các FTA với Australia, Hàn Quốc và Singapore).

Các FTA song phương vốn cũng đã có khá nhiều tham vọng và có một số lĩnh vực trong đó TPP có nhiều tham vọng hơn là các FTA này. Tuy nhiên, về phương diện khuôn khổ cơ bản của các quy tắc thì TPP không có khác biệt gì so với các FTA. Ví dụ, chương đầu tư đều có thể đạt được mục tiêu minh bạch về thủ tục hơn. Nhưng các tiêu chuẩn quan trọng đặt ra để kết hợp giữa tự do hoá và bảo hộ đầu tư, cụ thể là đã đồng thuận đưa ra một bộ "tiêu chuẩn đối xử tối thiểu" cho các khoản đầu tư và cấm quốc hữu hóa – theo Hiệp định Đầu tư Song phương Mẫu năm 2012 (US Mẫu BIT 2012 ). Cũng có một vài trường hợp ngoại về cấm “yêu cầu thực hiện"(ví dụ như cấm các hạn chế hoặc giới hạn về giá trị tiền bản quyền của nhà đầu tư nước ngoài đối với hoạt động cấp phép sử dụng công nghệ và các dịch vụ khác cho các công ty địa phương). Chương về doanh nghiệp nhà nước cũng giống như các FTA gần đây của Mỹ trong việc nhìn nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với các Doanh nghiệp nhà nước trong việc kinh doanh thương mại. Cũng có thể nói TPP ít tham vọng hơn FTA về chương này, ở chỗ là TPP đã thất bại trong việc áp dụng một định nghĩa rộng hơn về “doanh nghiệp nhà nước” mà trong đó sẽ bao gồm các doanh nghiệp gián tiếp thuộc sở hữu nhà nước theo định nghĩa trong FTA Mỹ-Singapore và rằng nó có điều khoản bắt buộc giảm dần tỷ lệ sở hữu và sự dính líu của nhà nước trong các doanh nghiệp này.

Thứ ba, một số chương chính cũng giống như trong các hiệp định WTO. Chương về Các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và chương Các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) giống các nội dung ở trong WTO+ về vấn đề thủ tục. Tuy nhiên, các điều khoản quy định việc ngăn ngừa các tiêu chuẩn kỹ thuật các biện pháp SPS “biến thành rào cản thương mại”. Nói chung là không có gì nhiều hơn đã được thỏa thuận trong WTO. Chương Bồi thường Thương mại quy định một cơ chế tự vệ chuyển tiếp cho phép một thành viên TPP có quyền áp thuế TPP lên tương đương mức thuế tối huệ quốc (MFN) (điều khoản tái áp thuế snapback) để chống nhập khẩu tăng đột biến. Tuy nhiên, chương này không thể hiện chắc có liên kết với quy định WTO+ như yêu cầu thông báo và tham vấn trước khi bắt đầu một cuộc điều tra chống bán phá giá mà vốn cũng đã có trong các FTA với Hàn Quốc, Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) giữa Nhật Bản với Ấn Độ. Trước tiên, Australia và New Zealand, hai thành viên tham gia TPP từ đầu hay còn gọi là Thái Bình Dương 4 (P4) đã từ bỏ thuế chống phá giá giữa hai bên, và việc áp dụng điều khoản này cho cả 12 quốc gia TPP là không phù hợp.

Khía cạnh mới đáng chú ý của TPP

Tuy nhiên, việc coi TPP như một thỏa thuận thế kỷ 21 chỉ nên nhìn ở khía cạnh đây là một thỏa thuận được thiết kế để hỗ trợ và thúc đẩy sự hình thành các chuỗi cung ứng đã được mở rộng ở các thành viên của mình để  tạo ra một khu vực địa lý rộng lớn bao gồm các nền kinh tế lớn như Mỹ và Nhật Bản, chứ không phải ở mức độ tham vọng và độ thực chất của các quy định cụ thể. Ví dụ, giả sử rằng Nhật Bản có các thỏa thuận song phương riêng rẽ với 11 quốc gia TPP khác, xe ô tô Nhật Bản được miễn thuế nhập khẩu theo EPA Nhật Bản-Australia, vẫn sẽ tiếp tục phải chịu thuế nhập khẩu ở Mỹ. Tương tự như vậy, một nhà sản xuất phụ tùng ô tô Nhật Bản sẽ được hưởng mức bảo vệ khác nhau tùy thuộc vào việc nhà máy của nó được xây dựng ở Việt Nam hoặc Úc. TPP có ý nghĩa nghĩa là để làm giảm đáng kể những hạn chế như vậy, cụ thể như ảnh hưởng đến sự lựa chọn như thế nào và ở đâu để hình thành chuỗi cung ứng trong phạm vi của 12 quốc gia.

TPP cũng còn có một số khía cạnh mới đáng chú ý. Chương về Lao động dường như đã đảm bảo các cam kết cụ thể từ Brunei, Malaysia và Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lao động cơ bản như quyền tổ chức công đoàn và quyền thương thảo, xóa bỏ tình trạng lạm dụng lao động trẻ em, với việc nếu Việt Nam thực thi các cam kết của mình thì mới đảm bảo rằng Mỹ không trì hoãn loại bỏ thuế quan cho hàng hóa của Việt Nam. Ngoài ra, chương Môi trường có tính áp đặt, mặc dù ở mức độ hạn chế. Trừng phạt trợ cấp nghề cá, một vấn đề đã được đưa vào chương trình nghị sự các Vòng đàm phán Doha WTO nhưng chưa được thoả thuận. Hơn nữa, khi không tuân thủ các điều khoản trong chương này, sẽ được xử ý bằng thủ tục giải quyết tranh chấp quy định trong TPP, và tùy mức độ, chế tài sẽ được đảm bảo bằng các biện pháp đối kháng thương mại như đình chỉ các nhượng bộ thuế quan. TPP có thể được định nghĩa như là một thỏa thuận thế kỷ 21 trong ý nghĩa rằng nó đã có một nỗ lực đầy đủ chính thức để giải quyết những vấn đề toàn cầu trong mối liên kết với thương mại đã được thảo luận trong phần tư thế kỷ qua.

Tầm quan trọng của thủ tục giải quyết tranh chấp: Thổi sức sống vào các thỏa thuận của thế kỷ 21

Không nghi ngờ gì nữa, TPP là một thỏa thuận đầy tham vọng trong đó bao gồm nhiều lĩnh vực chưa được giải quyết dưới bóng của WTO. TPP được cho là rất phức tạp, bao gồm không chỉ các quy tắc mà còn lộ trình phức tạp về các nhượng bộ như danh sách hạn ngạch thuế quan thấp quốc gia cụ thể và lộ trình cắt giảm thuế từng mặt hàng cụ thể. Đặc biệt, nó bao gồm các quy định riêng cho dệt may, ô tô, và các sản phẩm nông nghiệp, với các quy tắc xuất xứ có nhiều trường hợp ngoại lệ khác nhau và các điều khoản đặc biệt.

Xem gương của WTO, thủ tục giải quyết tranh chấp là chế tài đảm bảo tính hiệu quả của một thỏa thuận thương mại đầy tham vọng. Tuy nhiên, những thủ tục này có trong các FTA như Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đã rất khó để áp dụng. Đây có lẽ là kết quả của nhiều yếu tố như: các FTA song phương ưu tiên tham vấn; sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), mà có trong hầu hết các EPA của Nhật Bản và được sử dụng như là công cụ để cải thiện môi trường kinh doanh; và một số FTA song phương không bao gồm các quy định của WTO - cộng với tham vọng của họ là tập trung ưu tiên mở rộng tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, TPP khác nhau rất nhiều so với các FTA thường, do đó vai trò của thủ tục giải quyết tranh chấp của nó cũng quan trọng hơn nhiều.

Hơn nữa, chính hoàn cảnh của TPP làm cho các quy định thủ tục giải quyết tranh chấp của nó trở nên quan trọng hơn. Đầu tiên, đó là chỉ có vẻn vẹn một tháng rưỡi để hoàn thành tiến trìnhrà soát pháp luậtcủa TPP, một tiến trình làm sạch các văn bản nhằm đảm bảo tính nhất quán của các điều khoản và giải quyết tất cả các mâu thuẫn giữa các điều khoản của TPP và thoả thuận khác, các khuyết khuyết còntồn đọng trong các văn bản pháp lý cuối cùng. Thứ hai, được minh họa bởi các bằng sáng chế bảo vệ của các loại chế phẩm phẩm thuộc sinh học, theo đó nó cho phép các công ty giữ bí mật dữ liệu lâm sàng về thuốc mới trong một khoảng thời gian nào đó, đã trở thành điểm trở ngại lớn trong giai đoạn cuối cùng của các cuộc đàm phán TPP, và vẫn còn đó sự mơ hồ về mục đích trong một số lĩnh vực. Có một vài gợi ý rằng nội dung chính xác của hiệp định TPP phải được để cho bên thứ ba đánh giá.

Không khí chính trị hiện nay của Mỹ đang nóng lên với chiến dịch bầu cử tổng thống và sự phê chuẩn của TPP cũng báo trước về khả năng tranh chấp trong tương lai. Kết luận của TPP đã được chào đón với những lời chỉ trích từ một loạt các chính trị gia hàng đầu, bao gồm Chủ tịch Ủy ban Tài chính Thượng viện Orrin Hatch và cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, một ứng cử viên Tổng thống năm 2016 của đảng Dân chủ. Như vậy, việc mong chờ Quốc hội Mỹ phê chuẩn của TPP đang rất khó khăn. Một số vụ việc gây tranh cãi về NAFTA đang là một trở ngại cho việc phê chuẩn TPP và lo sợ rằng sẽ có nhiều tranh chấp phức tạp như hai tranh chấp dai dẳng giữa Mỹ-Mexico, một là về dịch vụ vận tải đường bộ qua biên giới và một về việc tiếp cận các thị trường cho sản phẩm đường. Tương tự như vậy, nếu tranh chấp phát sinh trong TPP, sự thành công hay thất bại của hiệp định giữa 12 quốc gia cuối cùng nằm ở vấn đề thủ tục giải quyết tranh chấp.

Theo bản tóm tắt kết của thỏa thuận, thủ tục giải quyết tranh chấp chung của TPP sẽ được áp dụng cho hầu như tất cả các chương, với một số ngoại lệ như các chương quy định sự phù hợp. Lấy bài học từ NAFTA, theo đó từ chối đề cử một hội thẩm viên sẽ giúp ngăn chặn các thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết tranh chấp (như đã thấy trong trường hợp tranh chấp trên thị trường đường). TPP dường như đã đảm bảo sự hình thành tự động của một ban hội thẩm giải quyết tranh chấp. Thêm vào đó, TPP đưa ra thủ tục giải quyết tranh chấp thay thế cho từng lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như việc thủ tụcgiải quyết tranh chấp đầu tư nhà nước (ISDS) được thực hiện theo quy định trong chương đầu tư, có các thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt được áp dụng chỉ riêng cho Nhật Bản - Mỹ và Nhật Bản-Canada về tranh chấp về thương mại xe cơ giới, và tham vấn Hợp tác kỹ thuật (CTC) thuộc chương SPS.

Lời kết

TPP là một FTA thế kỷ 21. Tuy nhiên, nó chỉ đúng khi các thủ tục giải quyết tranh chấp hoạt động tốt, còn nếu không, TPP cũng giống như việc chỉ cày ruộng mà quên gieo hạt. Liệu các nhà đàm phán đã chuẩn bị các thủ tục giải quyết tranh chấp và thổi sức sống cho TPP, dựa trên nhận thức đầy đủ và hiểu biết về tầm quan trọng của thỏa thuận này?.

Tài liệu tham khảo

Baldwin, R (2012), "21st Century Thương mại và thế kỷ 21 WTO," Rieti Perspectives từ Around the World, ngày 14 tháng 6.

Theo https://ustr.gov - PT

Từ khóa: TPP, bộ quy tắc kinh tế quốc tế

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Chuyên mục FTA

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Chuyên mục EU-VN FTA

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789641
Go to top