
Là nhà cung cấp da giày lớn thứ hai của Mỹ, Việt Nam đã là một phần quan trọng của danh mục đầu tư sản xuất của nhiều công ty da giày Mỹ. Mặc dù Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có khả năng sẽ thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của Việt Nam, các công ty Mỹ đang có ý định tìm nguồn cung ứng ở đất nước này cũng cần phải nhận thấy được những rủi ro tiềm ẩn.
Trong tổng số 2,4 tỷ đôi giày nhập khẩu vào Mỹ năm 2014, có tổng cộng 273.6 triệu đôi là nhập khẩu từ Việt Nam, chiếm 11,7% thị trường Mỹ, tăng 19% so với năm 2013.
Theo ông Matt Priest, chủ tịch Hiệp hội thương mại của các nhà phân phối da giày và các nhà bán lẻ Mỹ (FDRA) cho rằng đây là một con số khá tốt, và lưu ý rằng hàng nhập khẩu từ Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2015 hiện đang nhiều hơn 21% so với cùng kỳ năm ngoái.
Mặc dù con số trên vẫn tụt lại khá xa so với Trung Quốc – quốc gia có lượng da giày xuất khẩu vào Mỹ nhiều nhất, chiếm 79% da giày nhập khẩu với 1.84 tỷ đôi giày vào năm 2014, nhưng vì phải đối mặt với chi phí lao động tăng cao ở Trung Quốc, các nhà bán lẻ và các thương hiệu Mỹ vẫn đang tiếp tục đa dạng hóa nguồn cung cấp của họ. Và Việt Nam trở thành một nguồn cung cấp sáng giá.
Theo ông Priest, do Việt Nam đangdần trở thành nguồn cung cấp quan trọng của Mỹ, trong vòng 5 năm tới, thị phần da giày Việt Nam tại thị trường Mỹ sẽ tăng lên, trong khi thị phần của Trung Quốc sẽ giảm xuống. Thị phần da giày Việt nam tại thị trường Mỹ được dự báo sẽ tăng từ 12% năm 2014 lên 22% năm 2019, trong khi thị phần Trung Quốc sẽ giảm từ 79% năm 2014 xuống còn 67% năm 2019.
Vai trò của TPP
Vậy Hiệp định TPP sẽ đóng vai trò như thế nào trong tiềm năng tăng trưởng và sức hấp dẫn của Việt Nam trong việc thay thế các doanh nghiệp Trung Quốc trở thành nguồn cung cấp da giày cho Mỹ?
Việt Nam là một trong 12 quốc gia - bao gồm Mỹ và Canada - đang đàm phán Hiệp định TPP trong 5 năm qua. Mặc dù hiện tại hiệp định TPP vẫn chưa xác định được ngày ký kết, nhưng ông Priest vẫn hy vọng rằng hiệp định này sẽ nhanh chóng được hoàn tất.
Mặc dù vậy, ông Priest thừa nhận rằng ngay cả khi đàm phán TPP được hoàn tất trong vài tuần tới, hiệp định này vẫn phải được trình lên Quốc hội để xem xét, vì vậy không hoàn toàn chắc chắn khi nào hiệp định sẽ đi vào thực thi và sẽ có điều gì xảy ra trong quá trình xem xét của Quốc hội. Nếu không thể ký kết trong 2 tháng tiếp theo, hiệp định TPP có thể sẽ phải chờ cho đến khi chiến dịch bầu cử Tổng thống Mỹ kết thúc vào tháng 11/2016.
Nhưng thậm chí nếu TPP hoàn tất đàm phán và ký kết, vẫn sẽ mất một thời gian để hiệp định này được thực thi vì mỗi quốc gia thành viên TPP đều có các quá trình cải cách trong nước cần thực hiện, và do đó sẽ ảnh hưởng đếnthời gian thực tế TPP có hiệu lực.
Ông Priest giải thích rằng, Mỹ chưa từng đàm phán hiệp định thương mại với nước nào có tầm quan trọng như vậy trong lĩnh vực sản xuất da giày kể từ khi ký kết NAFTA, và do đó vấn đề tự do hóa sản phẩm da giày nhận được rất nhiều quan tâm và Mỹsẽ được giảm thuế khi nhập khẩu từ các nước thành viên TPP một khi hiệp định này hoàn tất.
Về vấn đề thuế quan, FDRA ước tính rằng trong năm 2014, tổng thuế nhập khẩu da giày của Mỹ là 2,7 tỷ USD, trong đó 448,75 triệu USDlà thuế phải trả dành cho mặt hàng da giày có nguồn gốc từ các nước TPP, riêng Việt Nam đã chiếm 445,85 triệu USD.
Ông Priest cũng lưu ý các quy tắc xuất xứ (ROO), trong đó yêu cầu nguyên phụ liệu dành cho sản xuất da giày tại Việt Nam và xuất khẩu sang Mỹ phải có nguồn gốc trong vẫn chưa được thể hiện trong văn bản của hiệp định TPP.
Tuy nhiên, theo ông Priest, Mỹ hy vọng hiệp định TPP sẽ có quy địnhhàm lượng khu vực, có thể là 55%, và nguyên phụ liệu phải có nguồn gốc từ Việt Nam hay từ các nước thành viên TPP thì hàng hóa mới được nhận ưu đãi miễn thuế.
Ông Priest cho biết, "Quy định này sẽ rất giống với ROO trong NAFTA, nhưng khác ở điểm nếu các yếu tố đầu vào cho ngành da giày có nguồn gốc từ các nước không phải là thành viên của thỏa thuận, ví dụ như vật liệu da có xuất xứ từ Trung Quốc hoặc Ấn Độ, thì vấn đề này sẽ nằm ngoài chương da giày, nghĩa là không có yêu cầu quy địnhhàm lượng khu vực đối với mặt hàng da giày vì các yếu tố đầu nằm ngoài chương 64 sẽ không được tính.”
Theo ông Priest, vì nội dung hiệp định TPP chưa được công khai, nên ông chưa không thể bảo đảm điều trên 100% chính xác. Nhưng chắc chắn sẽ có quy tắc xuất xứ và các nước thành viên TPP sẽ phải đáp ứng quy tắc này, do đó các doanh nghiệp và các nhà máy sẽ phải có đủ giấy tờ hồ sơ chứng minh rằng mình đã đạt tiêu chuẩn xuất xứ. Các hồ sơ giấy tờ này cũng sẽ chỉ có giá trị trong vòng 5 năm.
Nhưng điều này không có nghĩa chỉ là thêm một số giấy tờ.Việt Nam đang dần trở thành một nguồn cung ứng quan trọng, và do đó nhiều rủi ro mới trong chuỗi cung ứng cũng cần phải được nhận dạng. Những rủi ro này gồm các vấn đề hải quan, pháp luật và các quy định nhằm thích ứng với các phương pháp sản xuất và tiêu chuẩn phương Tây. Đây là những nhân tố tiềm ẩn có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng.
Các biến số khác cần phải xem xét bao gồm các khả năng đáp ứng năng lực sản xuất, bởi vì Việt Nam không có lực lượng lao động tương tự như ở Trung Quốc, và các tác động đối với giá cả.
Sự dịch chuyển chuỗi cung ứng: rủi ro và cơ hội
Ông Randal Rankin, phó chủ tịch CSR Services thuộc Bureau Veritas Consumer Products Services cho biết: “Sự dịch chuyển sản xuất của một ngành công nghiệp đến một quốc gia đang phát triển sẽ tiềm ẩn 5 yếu tố rủi ro.”
5 yếu tố này gồm:
• Năng lực sản xuất: liệu có các cơ sở vật chất đủ khả năng sản xuất sản phẩm?
• Sự sẵn có của nguyên vật liệu: nguyên vật liệu có sẵn tại địa phương hay phải nhập khẩu?Việc này ảnh hưởng như thế nào đến thời gian hoàn thành và khả năng sản xuất sản phẩm? Có sẵn nguồn lao động không? Có thể mua được các thiết bị cần thiết trong nước, và có thể sử dụng chúng lâu dài không?”
• Sản xuất chuyên môn;
• Tuân thủ quy định;
• Hỗ trợ cơ sở hạ tầng: sản phẩm có khả năng được tung ra thị trường, hay có thể vận chuyển được đến nơi bán hay không?
Theo ông Rankin, bước quan trọng đầu tiên là phải nghiên cứu và hiểu biết về thị trường. Ở mức độ vĩ mô cấp quốc gia, doanh nghiệp cần nghiên cứu và hiểu rõ về các đối tác trong chuỗi cung ứng của mình; đồng thời xác định và sắp xếp nơi sản xuất.
“Động lực của các phương tiện này là gì? Nhà máy nào đang sản xuất các sản phẩm? Các đối tác có thể làm ra được các sản phẩm bạn mong muốn không? Họ có đủ năng lực sản xuất lượng sản phẩm bạn cần không? Và nếu họ không thể làm điều đó, rất có khả năng họ sẽ dùng phương pháp giao thầu phụ.", ông Rankin nhận định.
Đánh giá của Bureau Veritas đối với 275 cơ sở may mặc và da giày ở Việt Nam trong 24 tháng vừa qua, ông Rankin nhận xét các cơ sở thường gặp một số vấn đề như sau: 38% cơ sở không có đủ ánh sáng; 37% có vấn đề với cân chỉnh máy móc; và 32% không có hồ sơ hiệu chuẩn.
"Đây là những điều cơ bản giúp xác định liệu bạn có thể nhận được sản phẩm bạn muốn hay không. 15% cơ sở được chúng tôi kiểm trađã không tiến hành kiểm tra nội bộ theo đúng yêu cầu của các khách hàng.Bạn nên kỳ vọng vào chất lượng của đối tác, và hy vọng họ đang tự kiểm tra lại chất lượng này, nhằm đảm họ sẽ sản xuất được những sản phẩm đáp ứng được mong đợi của bạn”, ông Rankin nói.
Ông cũng lưu ý rằng "có một tỷ lệ thất bại cao trong việc chi trả đầy đủ các khoản phúc lợi bắt buộc. Việt Nam, cũng như nhiều nước khác ở châu Á, có một hệ thống xã hội rất phong phú về mặt phúc lợi, và nhiều công ty không đáp ứng được các yêu cầu về mặt phúc lợi này. Các phúc lợi trên ảnh hưởng lớn đến chi phí lao động cơ sở và bạn nên có nhận thức về vấn đề này. "
Tận dụng công nghệ để quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả
Ông Travis Darrow, quản lý cấp cao tại MetricStream, cho biết công nghệ có thể hỗ trợ quy trình làm việc và tăng mức độ an toàn trong việc quản lý chuỗi.
Những vấn đề quan trọng trong việc quản lý các nhà cung cấp là việc thiếu thông tin toàn diện về các nhà cung cấp và thiếu hiệu quả khi chuyển sang các nhà cung cấp mới, cũng như việc thông tin giữa các phòng ban không lưu thông khiến cho thông tin nguy cơ về một nhà cung cấp cụ thể không được chia sẻ kịp thời trong công ty.
Ngoài ra, thất bại trong việc truyền đạt lại các thay đổi trong quy trình, tài liệu, thông số kỹ thuật trong vấn đề sản xuất sản phẩm cũng là một nguy cơ thực sự bên cạnh vấn đề sản phẩm không phù hợp và bị từ chối.
Theo ông Darrow, các nhà cung cấp không thực hiện đúng với hợp đồng và thỏa thuận dịch vụ (SLAs) “có thể khiến bạn bị mất lợi nhuận, lãng phí tiềm năng và dễ kiện tụng. Nhà cung cấp cũng có thể trì hoãn việc thực hiện hợp đồng, dẫn đến việc bạn sẽ thất thu và mất thị phần. Và một nhà cung cấp thiếu sự kiểm soát chặt chẽ về các rủi ro chất lượng cũng có thể khiến bạn bị gánh chịu các hình thức phạt từ các cơ quan quản lý, và khiến chuỗi cung ứng bị gián đoạn.”
Ông Darrow cũng xác định 5 yếu tố chính cho một chương trình quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả: quản lý thông tin về nhà cung cấp, quản lý rủi ro đối với nhà cung cấp, kiểm toán nhà cung cấp và nhà máy, giám sát việc tuân thủ, và quản lý sự hiệu quả của nhà cung cấp.
Phần lớn các chương trình này có thể được quản lý tập trung bằng công nghệ. Công nghệ còn có thể giúp các doanh nghiệp tự động kiểm toán và kiểm tra sự tuân thủ, an toàn, chất lượng và an ninh xủa đối tác.
"Lợi nhuận từ đầu tư và triển vọng của việc sử dụng công nghệ là bạn có thể đưa ra quyết định tốt hơn với một cái nhìn tập trung đối với rủi ro từ nhà cung cấp, từ đó có thể giảm bớt nguy cơ tổng thể. Mục đích của tất cả các điều này là nhằm bảo vệ danh tiếng và thương hiệu của bạn.", ông Darrow nói.
Theo http://www.just-style.com – TV
Từ khóa: Giảm nhẹ rủi ro, tìm nguồn cung ứng, da giày, tại Việt Nam
Các tin khác
- TPP sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Mỹ - 25/09/2015
- Các nhà sản xuất thép Mỹ lo ngại về quy tắc xuất xứ của TPP - 24/09/2015
- TPP có thúc đẩy 11 nền kinh tế Đông Nam Á? - 24/09/2015
- EVFTA tạo bước đột phá cho kinh tế Việt Nam - 24/09/2015
- Nhật Bản ủng hộ Đài Bắc, Trung Quốc tham gia đàm phán TPP - 23/09/2015






















