
ASEAN đang dự tính sẽ thành lập một Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững và Đối thoại (ACSDSD). Việc Trung tâm này có khả năng giúp ASEAN dẫn dắt các hoạt động hợp tác phát triển bền vững hay không sẽ phụ thuộc vào cách thức tổ chức của nó.
Theo đánh giá của bà Kaewkamol Pitakdumrongkit, Phó giám đốc Trung tâm RSIS, các nhà hoạch định chính sách tại Đông Nam Á nên vận dụng những bài học rút ra từ kinh nghiệm làm việc trong quá khứ của ASEAN, để xây dựng khuôn khổ pháp lý và quyền hạn cho ACSDSD.
Tuần trước, các nhà lãnh đạo tài chính trên thế giới đã tham dự một hội nghị thường niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) tại Bali, Indonesia từ ngày 12 đến 14 tháng 10. Bên lề hội nghị, các lãnh đạo Đông Nam Á cũng tổ chức một buổi gặp mặt thân mật với nhau trước đó một ngày (11/10). Mặc dù hai cuộc gặp gỡ này bao gồm các khách mời từ nhiều lĩnh vực khác nhau, điểm tương đồng giữa chúng chính là các cuộc thảo luận về phát triển bền vững (SD).
Phát triển bền vững được định nghĩa là “sự phát triển thỏa mãn các nhu cầu ở hiện tại nhưng không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”. Nói cách khác, là sự phát triển của thế hệ hiện tại mà không gây tổn hại đến thế hệ tương lai. Hình thức phát triển này đang trở thành một tiền đề căn bản để các quốc gia “triển khai các hoạt động phát triển kinh tế, phát triển xã hội, và bảo vệ môi trường, một cách cân bằng”.
Tại cuộc hội nghị IMF-WB ở Bali, Tổng thư ký của Liên Hiệp Quốc (UN), António Guterres, đã nhấn mạnh mối lo ngại dành cho các trường hợp vay nợ cao ở một vài quốc gia; hiện tượng này có thể làm suy giảm năng lực của chính phủ trong việc tận dụng các nguồn quỹ để đầu tư vào những dự án công cộng và các chương trình tài chính, nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra trong Chương trình Nghị sự Phát triển Bền vững đến năm 2030 của Liên Hiệp Quốc.
Trùng hợp thay, buổi họp mặt giữa các Lãnh đạo ASEAN cũng có chủ đề “Gặt hái Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) và Thu hẹp Khoảng cách Trình độ Phát triển Thông qua Các chương trình Hợp tác và Khu vực và Toàn cầu”. Các nước Đông Nam Á đã nhấn mạnh thành công của ASEAN trong việc đề ra Chương trình nghị sự 2030, và bàn bạc về những thách thức hiện tại liên quan đến Phát triển Bền vững (SD).
Giống với IMF và WB, các nước Đông Nam Á nhìn nhận SD là mục tiêu trọng yếu của họ vì nhiều lý do.
Thứ nhất, các quốc gia lao vào những kế hoạch phát triển cuối cùng có thể bị thiệt hại bởi tình trạng thâm hụt thương mại, khiến họ phải vay thêm ngoại tệ từ IMF để cứu vớt nền kinh tế. Ví dụ như kế hoạch Hành lang Kinh tế Trung Quốc-Pakistan từng yêu cầu Pakistan phải nhập khẩu máy móc để phục vụ cho quá trình xây dựng. Chỉ trong hai năm đầu tiên của quá trình xây dựng, thâm hụt thương mại ở Islamabad tăng lên 50%, buộc chính phủ phải cầu xin nguồn kinh phí cứu trợ từ IMF.
Thứ hai, các cường quốc thường sử dụng những sáng kiến phát triển như là một công cụ trong cuộc đua tạo dựng tầm ảnh hưởng. Ở Đông Nam Á, chẳng cần nhìn đâu xa ngoài tiểu vùng sông Mekong, nơi mà Trung Quốc, Nhật Bản, và Hoa Kỳ cạnh tranh lẫn nhau bằng các kế hoạch của riêng mình - lần lượt là Hợp tác Lan Thương-Mekong, Hợp tác Nhật Bản-Mekong, và Sáng kiến Hạ Mekong - nhằm tranh giành sức ảnh hưởng trong tiểu vùng này.
Hơn thế nữa, việc các quốc gia theo đuổi những chương trình phát triển kinh tế một cách mù quáng cũng có thể sẽ hủy hoại khả năng chi trả nợ nần của họ. Sri Lanka, Kenya, Djibouti, Kyrgyzstan, và Mông Cổ, và Lào là những ví dụ điển hình.
Tình trạng nợ nần cuối cùng có thể dẫn đến việc các quốc gia phải đánh đổi chủ quyền của mình. Sri Lanka là một ví dụ điển hình. Nước này phải cho chủ nợ Trung Quốc thuê lại cảng Hambantota của trong 99 năm. Vì vậy, nếu như các nền kinh tế ASEAN không muốn rơi vào tình cảnh tương tự, họ buộc phải xem trọng vấn đề Phát triển Bền vững và nâng cao các nỗ lực hợp tác Phát triển Bền vững bằng cách trở thành người quyết định luật lệ, thay vì là người tuân thủ lệ của kẻ khác.
Chúng ta có thể thấy rõ rằng các nước Đông Nam Á đang theo đuổi một phương thức dẫn dắt như vậy. Họ đang lên kế hoạch thành lập Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững và Đối thoại Đông Nam Á (ACSDSD) vào năm sau.
Trung tâm này sẽ giữ vai trò như một cơ chế chính sách phục vụ cho các hoạt động hợp tác Phát triển Bền vững trong khu vực. ACSDSD có nghĩa vụ triển khai những công việc, từ hỗ trợ thực thi các dự án, đến khuyến khích các cuộc đối thoại giữa ASEAN và các đối tác phát triển của mình.
ACSDSD có thể củng cố khả năng dẫn dắt của ASEAN trong các hoạt động hợp tác Phát triển Bền vững, vì nó giúp tạo ra một diễn đàn để các nước thành viên ASEAN và các đối tác phát triển cùng gặp mặt và trao đổi ý kiến về chính sách phát triển.
Hơn nữa, Trung tâm này có thể giúp tạo ra tiếng nói riêng cho các nền kinh tế Đông Nam Á trong quá trình thiết kế và thực thi dự án, và điều chỉnh cách tiếp cận của các đối tác sao cho phù hợp với những cam kết của ASEAN trong Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hiệp Quốc.
ACSDSD cũng có trách nhiệm giải quyết các vần đề nảy sinh trong trường hợp những dự án không được hỗ trợ đồng đều – chẳng hạn như một số chương trình được trợ vốn quá nhiều trong khi những chương trình khác thì lại quá thấp. Hơn thế nữa, ACSDSD có thể giúp đảm bảo rằng các dự án được triển khai trên tinh thần tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn của ASEAN về độ minh bạch và thân thiện với môi trường.
Mặc dù ý tưởng thành lập ACSDSD là một bước đi đúng đắn, vẫn còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Quan trọng nhất là, các nhà lãnh đạo ASEAN phải tạo ra một ACSDSD hiệu quả để có thể thu hút nguồn lực từ những lĩnh vực khác nhau, và xúc tiến phối hợp giữa các bộ phận khác nhau. Bởi vì Phát triển Bền vững là một khía cạnh đa diện và liên quan đến nhiều lĩnh vực, đòi hỏi Trung tâm này phải phối hợp với các cơ quan khác.
Ví dụ, nhằm đảm bảo các chương trình phát triển không gây hại cho môi trường, ACSDSD phải hợp tác với Tổ công tác ASEAN về Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng Sinh học. Thêm vào đó, nhằm đưa ra một hệ thống giám sát nợ quốc gia xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế, Trung tâm này phải hợp tác với Cơ quan nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 (AMRO).
Làm cách nào để mục tiêu hợp tác đa diện và liên quan đến nhiều lĩnh vực trở nên khả thi? Đáp án nằm trong những hoạt động và kinh nghiệm trong quá khứ của ASEAN.
Lấy ví dụ như Uỷ ban Điều phối Kết nối ASEAN (ACCC) đang nắm giữ vai trò trung gian bằng cách sàng lọc các dự án đưa ra bởi các đối tác bên ngoài, và điều phối dòng vốn và các nguồn lực từ một vài lĩnh vực nhất định sang những lĩnh vực cần nhiều sự hỗ trợ hơn.
Một ví dụ khác là Trung tâm Điều phối ASEAN về Hỗ trợ Nhân đạo trong Quản lý Thảm hoạ (Trung tâm AHA) đã phối hợp thành công với nhiều đối tác đa dạng, từ các nước không thuộc ASEAN, đến các tổ chức quốc tế, và đối tác tư nhân, trong hoạt động khắc phục hậu quả thiên tai. Các bài học rút ra từng những trường hợp trên có thể áp dụng cho quá trình hoạch định quyền hạn và khuôn khổ pháp lý cho ACSDSD, để cơ quan này có thể giúp ASEAN nắm quyền dẫn dắt trong các hoạt động hợp tác Phát triển Bền vững.
Nguồn: Khmer Times - HN
Từ khóa: ASEAN, phát triển bền vững, hội nhập kinh tế, toàn cầ hóa, tiểu vùng Mekong
Các tin khác
- Tổ chức Ngân hàng Thế giới cho biết: ASEAN cần khoản đầu tư to lớn vào cơ sở hạ tầng lớn - 10/10/2018
- WEF ASEAN 2018: Hội nghị khu vực thành công nhất trong 27 năm - 14/09/2018
- ASEAN mong muốn thắt chặt quan hệ với Trung Quốc trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa hai nước leo thang - 13/09/2018
- Bài viết của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhân Hội nghị WEF ASEAN 2018 - 11/09/2018
- Hội nghị WEF ASEAN: Trọng tâm đối ngoại của Việt Nam năm 2018 - 06/09/2018






















