JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Chuyên đềHiệp định đã ký kếtTổng hợp tình hình kinh tế các nước ASEAN trong tháng 3/2016

Tổng hợp tình hình kinh tế các nước ASEAN trong tháng 3/2016

ASEAN-3

Trong tháng 3 vừa qua, kinh tế các nước ASEAN có những diễn biến sau: Singapore: PMI giảm xuống mức thấp nhất hơn 3 năm, Philippines: Lạm phát thấp nhất trong 4 tháng, Malaysia: Thặng dư thương mại giảm thấp nhất trong 6 tháng, Indonesia: Thặng dư thương mại tăng kỷ lục.

Singapore

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của Singapore trong tháng 2/2016 đã giảm xuống 48,5 và là mức thấp nhất kể từ tháng 12/2012. Đây là tháng thứ 8 liên tiếp, PMI của Singapore giảm dưới 50, cho thấy hoạt động sản xuất tại Singapore đã xuống mức thấp nhất trong hơn 3 năm. Các nhà máy đều ít đơn đặt hàng mới, trong khi sản lượng, việc làm cùng các điều kiện kinh doanh bị giảm sút đáng kể và không có dấu hiệu cải thiện.

Theo Viện Thu mua và Quản lý nguyên vật liệu Singapore (SIPMM), nguyên nhân là do đơn đặt hàng mới, hợp đồng xuất khẩu, sản lượng sản xuất liên tục giảm và lượng hàng tồn kho tiếp tục tăng.

Trong khi đó, chỉ số PMI ngành điện tử cũng giảm 0,3 điểm so với tháng Giêng và xuống mức 48,2.

Các chuyên gia cho rằng Singapore đang phải đối mặt với khó khăn gấp đôi do nhu cầu bên ngoài giảm mạnh đi kèm những thách thức nội tại như chi phí gia tăng, nguồn cung nhân lực bị thắt chặt, khả năng cạnh tranh của lĩnh vực sản xuất giảm sút. Việc chỉ số PMI của Trung Quốc cũng giảm sút sẽ có thể gây tác động mạnh đến nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Singapore trong thời gian tới. Sản xuất trong nước sẽ vẫn còn yếu trong những tháng trước mắt, mặc dù sự phục hồi có thể diễn ra trong nửa cuối năm nay.

Số liệu do Cơ quan thống kê Singapore công bố cho biết, giá tiêu dùng của nước này trong tháng 2 giảm 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái sau khi giảm 0,6% vào tháng 1. Mức giảm này đúng với dự báo mà các nhà phân tích đưa ra trước đó và là tháng giảm thứ 16 liên tiếp, chủ yếu do giá nhà ở, đồ dùng thiết yếu và vận tải giảm mạnh.

So với cùng kỳ năm 2015, giá giảm mạnh nhất là giá nhà ở và đồ dùng thiết yếu giảm 4,1%, giá dịch vụ và hàng tiêu dùng lâu bền giảm 0,6%, phí vận tải giảm 2,9% và phí truyền thông giảm 0,9%. Ngược lại, giá quần áo và giày dép tăng 2,5%, phí chăm sóc sức khỏe tăng 0,7%, phí dành cho các hoạt động văn hóa, giải trí tăng 0,1%, giáo dục tăng 2,4% và dịch vụ, hàng tạp hóa tăng 0,5%, giá thực phẩm tăng 2% so với 1,7% của tháng 1.

Tỷ lệ lạm phát lõi, không bao gồm phí ăn ở và vận tải đường bộ tư nhân tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2015 và 0,4% của tháng 1. Tỷ lệ này cao hơn dự báo mà các nhà phân tích đưa ra trước đó và là mức cao nhất kể từ tháng 10/2015.

Số liệu thống kê mới nhất của Bộ Nhân lực Singapore (MOM) cho biết nhiều người lao động đã bị mất việc làm trong năm 2015 do kinh tế suy giảm, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp của nước này vẫn ở mức thấp.

Trong năm 2015, có tới 15.580 công nhân đã bị sa thải, mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009 và tăng 20% so với năm 2014. Không những bị mất việc làm, MOM cũng chỉ ra rằng người lao động ngày càng gặp khó khăn hơn khi tìm một công việc mới.

Chỉ hơn một nửa số người Singapore và những người có thẻ cư trú bị sa thải từ tháng 7 đến tháng 9/2015 là có thể tìm được việc làm vào cuối năm, giảm 55% so với quý trước đó và giảm 59% so với quý cuối cùng của năm 2014. Đáng chú ý, lao động địa phương tăng trưởng với tốc độ chậm nhất trong hơn một thập kỷ qua. Số người Singapore và người có thẻ cư trú có việc làm chỉ tăng 700 người trong năm 2015, trong khi con số này của năm trước đó là 96.000 người.

Trong khi đó, số người lao động nước ngoài tại Singapore tính đến cuối năm 2015 là trên 3,6 triệu người, chỉ tăng 0,7% so với thời điểm đầu năm.

Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của Singapore trong năm 2015 vẫn không thay đổi ở mức 2,9% đối với người Singapore, trong khi tỉ lệ này tăng nhẹ từ 2,7% trong năm 2014 lên 2,8% đối với thành người có thẻ cư trú.

Theo MOM, sự thay đổi cấu trúc làm chậm tăng trưởng lực lượng lao động địa phương trùng với suy thoái theo chu kỳ. Các ngành định hướng xuất khẩu như sản xuất và thương mại tăng trưởng chậm lại cùng với các dịch vụ bất động sản trong bối cảnh thị trường ảm đạm, thương mại bán lẻ cũng giảm sút do suy thoái... đã khiến cho tăng trưởng việc làm giảm.

Bất chấp tình trạng tăng trưởng việc làm giảm sút, thu nhập của người lao động tại Singapore vẫn được cải thiện so với năm trước đó khi tăng 7% và năng suất lao động chỉ giảm 0,1% (năm 2014 giảm 0,5%).

Philippines

Theo Cơ quan thống kê Philippines, giá tiêu dùng của nước này trong tháng 2 chỉ tăng 0,9%, thấp hơn so với 1,3% của tháng 1 và dưới mức 1,4% mà các nhà phân tích dự báo trước đó. Đây cũng là mức thấp nhất kể từ tháng 11/2015, chủ yếu do giá nhà ở, đồ dùng thiết yếu giảm mạnh. So với cùng kỳ năm 2015, giá đồ uống có cồn và thuốc lá tăng 4,9%, chi phí chăm sóc sức khỏe tăng 1,9% và hàng tạp hóa, dịch vụ tăng 1,5%. Ngược lại, giá nhà ở, điện, nước, gas và các nhiên liệu khác giảm 1,2%, chi phí vận tải giảm 0,5%.

Tỷ lệ lạm phát lõi tăng 1,5% so với một năm trước đó, giảm so với 1,8% của tháng 1. Đây là mức thấp nhất trong vòng 5 tháng qua. Trước đó, Ngân hàng trung ương đặt mục tiêu lạm phát trong năm nay vào khoảng 2%-4%.

So với tháng 1, giá tiêu dùng giảm 0,3%, sau khi tăng 0,2% trong tháng 1. Đây là lần giảm đầu tiên kể từ tháng 9/2015. Giá Giá thực phẩm và đồ uống không cồn giảm 0,6%, chi phí vận tải giảm 0,9%. Ngược lại, giá đồ uống có cồn và thuốc lá tăng 0,6%, giá quần áo và giày dép tăng 0,1%, giá hàng tạp hóa và dịch vụ tăng 0,2%.

Theo Cơ quan thống kê Philipines, trong tháng 1 vừa qua nước này thâm hụt 2,64 tỷ USD so với 0,86 tỷ USD của một năm trước đó do xuất khẩu giảm mạnh. Trong tháng 12/2015, Philippines đạt thặng dư thương mại 603,03 triệu USD.

Trong tháng 1, xuất khẩu giảm 3,9% xuống 4,19 tỷ USD và là giá trị thấp nhất trong gần 3 năm qua, đồng thời đánh dấu tháng thứ 10 giảm liên tiếp. Xuất khẩu giảm mạnh nhất ở các mặt hàng quần áo và phụ kiện giảm 46,2%, tiếp theo là hóa chất giảm 34,6%, thiết bị vận tải và máy móc giảm 22,6%. Ngược lại, xuất khẩu các các sản phẩm từ quả dứa tăng 90,5%, đồ nội thất và đồ gỗ tăng 42% và xuất khẩu các sản phẩm điện tử, mặt hàng đem lại doanh thu cao nhất cho Philippines tăng 5%.

Xuất khẩu tới Trung Quốc giảm 8,6% xuống 405,65 triệu USD, tới Singapore giảm 8,6% xuống 278,7 triệu USD và tới các nước ASEAN giảm 9,5% xuống 630,02 triệu USD. Trong khi đó, xuất khẩu tới Mỹ tăng 0,7%, đạt 698,85 triệu USD, tới Hồng Koong tăng 2,6% và tới các nước EU tăng 3,8%. Xuất khẩu tới Nhật Bản, đối tác thương mại lớn nhất của Philippines tăng 7,7% lên 9350,52 triệu USD.

Nhập khẩu tăng 30,8% lên 6,83 tỷ USD và là giá trị cao nhất kể từ tháng 7/2015 sau khi giảm 25,8% vào một tháng trước đó. Nhập khẩu tăng tại hầu hết các mặt hàng ngoại trừ nhiên liệu khoáng sản, xăng dầu và các nguyên liệu liên quan. Nhập khẩu các sản phẩm kim loại tăng cao nhất 73,9%, tiếp theo là các sản phẩm diện tử tăng 67,1%, thiết bị vận tải tăng 61,5%, thiết bị và máy công nghiệp tăng 57,6%. Ngược lại, nhập khẩu nhiên liệu khoáng sản, xăng dầu và các nguyên liệu liên quan giảm 6,8%.

Trong tháng 1, Philippines nhập khẩu hàng hóa tăng tại tất cả các đối tác thương mại chính, nhập khẩu từ Trung Quốc, nguồn cung cấp chính của Philippines tăng 38,1% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 1,23 tỷ USD, từ Nhật Bản tăng 66,4% lên 727,04 triệu USD, tiếp theo là từ Mỹ tăng 19,9%, từ Hàn Quốc tăng 55,1% lên 491,76 triệu USD, từ Thái Lan tăng 64,3% lên 491,08 triệu USD, từ các nước ASEAN tăng 28,6% lên 1,62 tỷ USD và từ các nước EU tăng 24,7% lên 673,71 triệu USD.

Malaysia

Số liệu do Cơ quan thống kê Malaysia công bố cho biết, thặng dư thương mại của nước này trong tháng đầu tiên của năm nay đạt 5,39 tỷ MYR, giảm mạnh so với 8,96 tỷ MYR của một năm trước đó và thấp hơn dự báo mà các nhà phân tích đưa ra trước đó. Đây là mức thặng dư thấp nhất kể từ tháng 7/2015 do xuất khẩu bất ngờ giảm trong khi nhập khẩu tăng.

So với cùng kỳ năm 2015, xuất khẩu giảm 2,8% xuống 61,85 tỷ MYR và là lần giảm đầu tiên trong 8 tháng qua, chủ yếu do giá dầu thô giảm 38,2%, xuất khẩu các sản phẩm dầu tái chế giảm 19,4%, xuất khẩu cao su tự nhiên giảm 24,9%. Ngược lại, xuất khẩu các sản phẩm dầu cọ tăng 5,8% lên 4,8 tỷ MYR và xuất khẩu gỗ tăng 12,2% lên 2 tỷ MYR.

Nhập khẩu tăng 3,3% lên 56,46 tỷ MYR, chủ yếu do nhập khẩu hàng tiêu dùng và hàng trung gian tăng. Nhập khẩu hàng trung gian tăng 5,1% lên 34,7 tỷ MYR và chiếm 61,5% tổng nhập khẩu, nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng 33,1% lên 5,8 tỷ MYR. Ngược lại, nhập khẩu hàng hóa vốn giảm 13,2%, chủ yếu là nhập khẩu thiết bị vận tải và công nghiệp giảm 837,5 triệu MYR.

Trong tháng 12/2015, Malaysia đạt thặng dư thương mại 7,99 tỷ MYR.

Theo Cơ quan thống kê Malaysia, giá tiêu dùng của nước này trong tháng 2 tăng 4,2% so với cùng kỳ năm ngoái, cao hơn so với mức 3,5% của tháng 1 và cao hơn dự báo 4% mà các nhà phân tích đưa ra trước đó. Đây là mức lạm phát cao nhất của Malaysia kể từ tháng 12/2008 do giá tăng tại hầu hết các mặt hàng.

So với cùng kỳ năm 2015, giá thực phẩm và đồ uống không cồn tăng 4,8% sau khi tăng 3,9% vào tháng 1, tiếp theo là thuốc lá và đồ uống có cồn tăng 22,6%, quần áo và giày dép tăng 0,5%, giá nhà ở, điện, nước, gas và các nhiên liệu khác tăng 2,6%. Trong số các loại thực phẩm và đồ uống không cồn, người tiêu dùng phải trả nhiều hơn cho thực phẩm tăng giá 4,9%, thịt tăng 4,9%, hải sản và dầu cá tăng 7,5%, rau tăng 9,7%. Ngược lại, giá sữa và trứng giảm 0,2% từ 0,3%.

Tỷ lệ lạm phát lõi tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2015, bằng với mức tăng của tháng 1.

So với tháng 1, giá tiêu dùng không thay đổi sau khi giảm 0,3% vào tháng 1, giá thực phẩm và đồ uống không cồn tăng 0,7%, giá nhà ở, điện, nước, gas và các nhiên liệu khác tăng 0,4%, phí chăm sóc sức khỏe tăng 0,3%, chi phí giáo dục tăng 0,4%. Ngược lại, phí vận tải giảm 3,1%.

Indonesia

Số liệu do Cơ quan thống kê Indonesia công bố hôm 15/3 cho biết, trong tháng 2 vừa qua, nước này đạt thặng dư thương mại 1,14 tỷ USD, vượt xa so với mức thặng dư 660 triệu USD của một năm trước đó. Trong tháng 1 năm nay, Indonesia đạt thặng dư thương mại 10 triệu USD.

Trong tháng 2, xuất khẩu giảm 7,18% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 11,3 tỷ USD. Đây là tháng thứ 17 xuất khẩu giảm và là mức giảm thấp nhất kể từ tháng 10/2014, chủ yếu do doanh số các sản phẩm khí và phi dầu giảm 2,25% xuống 10,19 tỷ USD.

Trong khi đó, nhập khẩu giảm 11,71% so với cùng kỳ năm 2015, xuống 10,16 tỷ USD. Doanh số các sản phẩm khí và phi dầu giảm 7,58% xuống 9,05 tỷ USD doanh số các sản phẩm khí và dầu giảm 35,21% xuống 1,11 tỷ USD.

So với tháng 1, xuất khẩu tăng 7,8%, trong đó, xuất khẩu dầu tăng 0,47% và xuất khẩu các sản phẩm khí và phi dầu tăng 8,67%. Ngược lại, xuất khẩu nhiên liệu khoáng sản giảm 4,44%, giày dép giảm 10,78%, hoa quả giảm 26,08% và phân bón giảm 74,26%.

Xuất khẩu tới các nước ASEAN tăng 15,13%, đạt 2,21 tỷ USD, tiếp theo là tới Trung Quốc tăng 6,59%, tới Nhật Bản tăng 5,33%, tới Úc tăng 66,71%. Ngược lại, xuất khẩu tới các nước EU giảm 4,63% xuống 1,11 tỷ USD, tiếp theo là tới Mỹ giảm 6,82% và tới Ấn Độ giảm 0,6%.

So với tháng 1, nhập khẩu giảm 2,91%, nhập khẩu dầu và khí giảm 8,79% và nhập khẩu sản phẩm khí và phi dầu giảm 2,13%.

Nguồn : AsemconnectVietnam - N.Nga

Từ khóa : Tổng hợp, tình hình, kinh tế, các nước, ASEAN, tháng 3, 2016.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789810
Go to top