
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vốn được xem là “bình minh mới” ở khu vực Đông Nam Á, nhưng thực tế hiện tại lại cho thấy điều trái ngược.
AEC với ba trụ cột chính là chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội, có vẻ đạt được ít thành quả hơn so với những dự đoán trong kế hoạch. Hội nhập hoàn toàn ở khu vực ASEAN vẫn còn là một giấc mơ, và cách tiến hành kế hoạch AEC này vẫn quá dè dặt và thận trọng để mang lại nhiều lợi ích thiết thực.
Nhưng việc hội nhập ASEAN không phải hoàn toàn thất bại. Tương lai của AEC nằm trong tay các quốc gia ASEAN và nhiều yếu tố khác như các động lực thúc đẩy mở rộng chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) đang lan tỏa khắp các thị trường Asean.
Chính phủ các nước ASEAN cần tạo điều kiện, cho phép và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào GVCs càng nhiều càng tốt. GVCs là một trong các yếu tố giúp hình thành các trụ cột và thúc đẩy sự hội nhập kinh tế ASEAN.
Kể từ những năm 1949, ASEAN đã trải qua các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, bắt đầu từ những năm đầu công nghiệp hóa sau chiến tranh và đạt đỉnh vào cuối năm 1980. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã khiến tăng trưởng ở khu vực ASEAN dừng lại.
Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng 1997 đã dẫn đến cải cách và điều chỉnh ở các nước ASEAN và giúp mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia này. Nguyên nhân là vì các công ty và chính phủ ở các nước ASEAN đã trở nêncó kỷ luật hơn trong vấn đề tài chính và có nhiều biện pháp bảo đảm an toàn hơn.
Cải cách hậu khủng hoảng đã giúp ASEAN duy trì một quỹ đạo tăng trưởng ổn định là 5% trong thập kỷ qua, và dự kiến xu hướng này sẽ được giữ vững đến năm 2020. Khu vực ASEAN là một phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của khu vực châu Á bên cạnh Trung Quốc và Ấn Độ, đặc biệt là trong bối cảnh suy thoái kinh tế của Trung Quốc.
Mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm, hiệu suất tổng thể của ASEAN trong bốn thập kỷ qua vẫn nằm trên mức trung bình của thế giới. Nếu ASEAN là một nền kinh tế, thì đây sẽ là nền kinh tế lớn thứ bảy trên thế giới với tổng GDP hơn 2,5 nghìn USD trong năm 2015.
Nhìn chung, khu vựcASEAN có thể đạt được mức hiệu suất tổng thể trên là do khu vực này được hưởng lợi từ chính sách phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu, trong đó tập trung vào việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các nền kinh tế tiên tiến hơn và đang tìm kiếm địa điểm sản xuất thay thế.
Nhờ vào chi phí thấp, cơ sở hạ tầng đầy đủ, môi trường xã hội và chính trị tương đối ổn định, các nước ASEAN đã trở thành sự lựa chọn hấp dẫn đối với nhiều doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) trong việc thiết lập cơ sở sản xuất và xuất khẩu các thành phẩm.
Những tiến bộ trong giao thông vận tải và công nghệ viễn thông cho phép các MNE sắp xếp các hoạt động của mình ở từng khu vực phù hợp, giúp mang lại những lợi thế tốt nhất cho từng loại hoạt động của họ. Nói cách khác, chuỗi giá trị của ngành các công nghiệp (nghĩa là phạm vi hoạt động sản xuất một sản phẩm từ khi bắt đầu đến khi kết thúc) không cần phải diễn ra chỉ tại một địa điểm và cần sự kiểm soát của công ty như trước đây.
Điều này làm tăng hiện tượng "chuỗi giá trị toàn cầu" - các hoạt động sản xuất sẽ được phân chia giữa các doanh nghiệp ở nhiều không gian địa lý khác nhau, và được điều phối bởi các “công ty chỉ đạo” - thường là các doanh nghiệp đa quốc gia ở các nền kinh tế tiên tiến.
Các nền kinh tế đang phát triển, chẳng hạn như các nước thành viên ASEAN, hội nhập vào GVCs với vai trò là cơ sở sản xuất và xuất khẩu, trong khi các “công ty chỉ đạo” đa quốc gia sẽ di dời các hoạt động có thể tiêu chuẩn hóa và cần nhiều lao động ra nước ngoài nhằm cắt giảm chi phí của các hoạt động này.
Ngược lại, đối với các hoạt động phức tạp và có giá trị cao hơn, chẳng hạn như R&D hoặc bán hàng và tiếp thị, sẽ được giữ lại trong các nước phát triển, vì các quốc gia phát triển thường có sẵn nguồn lao động có tay nghề cao và nhu cầu tiêu dùng lớn.
Mô hình này giúp tất cả các bên đều có lợi. Người tiêu dùng ở các nền kinh tế tiên tiến có thể mua sản phẩm với giá rẻ hơn, trong khi MNE từ những quốc gia phát triển có thể duy trì khả năng cạnh tranh nhờ vào việc cắt giảm được chi phí. Các doanh nghiệp ở những thị trường mới nổi cũng được hưởng lợi nhờ là một phần của GVC và các quốc gia đang phát triển cũng thu được nhiều lợi ích nhờ vào dòng chảy FDI.
Kế hoạch hội nhập ASEAN trong những năm qua không phải là vấn đề được ưu tiên ở khu vực này, vì doanh nghiệp và chính phủ các nước thành viên ASEAN đều hướng về các thị trường bên ngoài khu vực ASEAN. Do vậy, trước đây những nỗ lực hội nhập kinh tế ASEAN đều diễn ra hết sức chậm chạp và trì trệ.
Tuy nhiên, ASEAN đã thay đổi trọng tâm ưu tiên của mình khi châu Á dần nổi lên trong thập kỷ qua. Nằm giữa hai nền kinh tế khổng lồ là Trung Quốc và Ấn Độ, các nước ASEAN nhận ra rằng khu vực này có thể sẽ không tranh thủ được lợi ích gì nếu tất cả các thành viên ASEAN không hành động chung với nhau.
Thị trường chung của khu vực ASEAN có thể sánh ngang với Trung Quốc và Ấn Độ
Với hơn 625 triệu người, thị trường chung của khu vực ASEAN có thể sánh ngang với Trung Quốc và Ấn Độ, và khu vực này cũng đứng thứ 3 trên giới về lượng lao động trẻ.
Trong khi các nước thành viên ASEAN vẫn tiếp tục hội họp về vấn đề hội nhập, thách thức thật sự về vấn đề hội nhập ASEAN lại nằm ở chỗ làm thế nào hoạt động của ASEAN trong GVCs có thể trở nên sâu rộng hơn, và làm thế nào các nền kinh tế vàdoanh nghiệp trong khu vực này có thể tích cực tham gia nhiều hơn vào GVCs.
Mở rộng các hoạt động của ASEAN trong GVC đồng nghĩa với việc phải cóthêm nhiều phân đoạn trong chuỗi giá trị diễn ra trong ASEAN. Khu vực ASEAN phát triển hơn nữa, để khu vực này không chỉ là một cơ sở sản xuất cho phương Tây mà sẽ trở thành một cơ sở sản xuất và thị trường chung duy nhất, trong đó toàn bộ các hoạt động GVC có thể diễn ra ngay trong khu vực này.
Doanh nghiệp và chính phủ các nước ASEAN cần phải tập trung vào việc tạo ra và thu hút các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn như bán hàng, tiếp thị và xây dựng thương hiệu cùng các hoạt động cần kiến thức chuyên sâu như R&D. Các doanh nghiệp Thái Lan có thể là một ví dụ tốt về vấn đề này khi họ đã bắt đầu tập trung chủ yếu vào thị trường nội địa, đồng thời mở rộng việc bán hàng, phân phối và hoạt động tiếp thị ở các nước ASEAN khác.
Tương tự, ASEAN cũng cần tăng cường hoạt động GVC trong khu vực bằng cách khuyến khích các doanh nghiệp tiếp cận sâu hơn vào thị trường ASEAN thông qua việc di chuyển một số hoạt động không còn mang đến nhiều lợi ích kinh tế cho đất nước sang các địa điểm khác.
Ví dụ như việc di dời các nhà máy may mặc từ Thái Lan sang Campuchia đã cho thấy chuỗi giá trị sản xuất hàng may mặc trong khu vực có thể trở nên sâu rộng hơn.
Mở rộng và làm sâu sắc hơn các hoạt động GVC trong khu vực ASEAN sẽ buộc doanh nghiệp và chính phủ các nước ASEAN xem việc hội nhập kinh tế khu vực là một vấn đề thiết thực. Phân tích những điểm mà doanh nghiệp và nền kinh tế phù hợp nhau trong chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp sẽ cho phép các nước ASEAN lập ra một kế hoạch chiến lược sáng suốt hơn.
Thông qua phân tích toàn diện về vấn đề hội nhập này, doanh nghiệp và chính phủ các nước thành viên ASEAN sẽ có thể đưa ra các chính sách có nhiều hiệu quả hơn, giúp củng cố nền tảng các hoạt động kinh tế trải dài trong khu vực thông qua các chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Pavida Pananond là giáo sư về kinh doanh quốc tế tại Khoa Kinh Doanh thuộc trường Đại Học Thammasat.
Theo http://www.bangkokpost.com – TV
Từ khóa: Nội địa hóa, chuỗi sản xuất, lựa chọn tốt nhất, AEC
Các tin khác
- ASEAN: Hướng tới triển khai visa du lịch chung - 21/01/2016
- Indonesia sẽ mở cửa lĩnh vực dịch vụ tài chính cho AEC - 20/01/2016
- Lao động Việt Nam gia nhập ASEAN: Vừa yếu, vừa thiếu - 19/01/2016
- Hiệp định ATIGA: Năm 2018 xóa bỏ hàng rào thuế quan trong ASEAN - 19/01/2016
- AEC: 8 nghề được dịch chuyển tự do chỉ chiếm 1,5% tổng số việc làm - 14/01/2016






















