
Ước tính hơn 50% nguồn cung da gia súc hiện nay trên thế giới là đối tượng của một số hình thức hạn chế xuất khẩu (ví dụ như lệnh cấm xuất khẩu da sống hoặc muối), chế độ kiểm soát bản quyền hoặc áp mức thuế cao nhằm ngăn cấm. Những biện pháp này chủ yếu được thực thi với một mục đích duy nhất: trợ cấp cho ngành công nghiệp sản xuất da trong nước. Lý do điển hình để biện minh cho việc đặt ra các hạn chế này khá mơ hồ: nhằm hỗ trợ ngành công nghiệp da phát triển, nhưng các biện pháp hạn chế và thuế quan đối với việc xuất khẩu da không hẳn theo đúng quy định của các hiệp định thương mại và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Hiện xu hướng của các Hiệp định quốc tế và các kết quả giải quyết tranh chấp của WTO là giải quyết dứt khoát các tiêu cực còn tồn tại, chẳng hạn như kết quả giải quyết tranh chấp của WTO đối với trường hợp đất hiếm của Trung Quốc - vụ việc có khả năng sẽ trở thành tiền lệ pháp lý cho các tranh chấp trong tương lai.
Tính thực thi của WTO và các FTA
WTO hay các Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết nhằm tạo lợi ích cho các bên tham gia bằng các hình thức giảm thuế hoặc loại bỏ hạn ngạch. Nhưng chỉ khi tất cả các bên tham gia hiệp định đồng ý tuân thủ luật chơi thì các hiệp định này mới đạt hiệu quả. Không giống như tòa án quốc gia có thể cưỡng chế thi hành án đối với các công dân hoặc các công ty trong nước. Hiện không có tổ chức siêu quốc gia toàn cầu nào có thể cưỡng chế một chính phủ nào đó phải thực thi theo các quy định của WTO hay FTA.
Thay vào đó, nếu một chính phủ có hành động được cho là không phù hợp với các nghĩa vụ đã ký kết trong các hiệp định thương mại, các quốc gia khác có quyền loại bỏ một số quyền lợi của nước vi phạm theo thỏa thuận đã ký. Điều này thường xảy ra dưới hình thức áp thuế trả đũa, và thường mối đe dọa từ việc bị áp thuế trả đũa cũng đủ để quốc gia vi phạm phải loại bỏ các hành vi không hợp lý của mình.
Tuy nhiên, hệ thống này sẽ bị phá vỡ hoàn toàn khi các nước dừng chơi đúng luật. Ví dụ, gần đây Nga đã cấm nhập khẩu các mặt hàng nông sản từ nhiều nước để đáp trả lại lệnh cấm của phương Tây liên quan đến cuộc khủng hoảng Ukraine. Các lệnh cấm nhập khẩu này không phù hợp với các nghĩa vụ thương mại của Nga khi gia nhập WTO. Thậm chí nếu đưa vấn đề này ra trước WTO và áp thuế trả đũa đối với với Nga, thì vẫn khó có thể tìm ra biện pháp giải quyết thỏa đáng cho các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng vì tình hình căng thẳng địa chính trị. Có thể thấy, tính thực thi các quy tắc thương mại quốc tế đối với các vi phạm vẫn chưa thực sự mạnh mẽ.
Theo điều XI của “Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) 1994”, chương đầu tiên về thương mại hàng hoá, yêu cầu các thành viên WTO phải loại bỏ hoặc chuyển thành mức thuế xuất khẩu định lượng đối với tất cả các lệnh cấm xuất khẩu và các biện pháp hạn chế xuất khẩu. Điều này có nghĩa là việc cấm xuất khẩu một sản phẩm cụ thể, các yêu cầu về giấy phép quá nặng nề, hoặc bất kỳ biện pháp nào khác ảnh hưởng đến việc xuất khẩu một sản phẩm phải được chuyển đổi thành một mức thuế quan hợp lý. Lệnh cấm xuất khẩu đối với một số loại sản phẩm cụ thể, chẳng hạn da tươi hoặc da ướp muối, rõ ràng là bất hợp pháp theo quy định này.
Tuy các biện pháp hạn chế xuất khẩu đối với da gia súc là vi phạm các nghĩa vụ thương mại, nhưng chính phủ của một quốc gia đưa vấn đề trên ra WTO khi các biện pháp hạn chế xuất khẩu này ảnh hưởng đến ngành công nghiệp nội địa của họ. Do đó, ảnh hưởng chính trị của một ngành công nghiệp lên chính quyền là rất quan trọng, vìmột ngành công nghiệp phảimất rất nhiều nỗ lực vận động hành lang mới có thể khiến chính phủ hành động trước một vụ tranh chấp thương mại.
Vùng xám
Các nước đầu tiên gia nhập WTO có thể giữ lại thuế xuất khẩu chuyển đổi của mình, nhưng hầu hết các nước tham gia WTO sau năm 1995 (như Trung Quốc và Nga) đều bị buộc phải loại bỏ dần thuế quan xuất khẩu đối với tất cả các sản phẩm, trừ một vài loại nhạy cảm. Các hiệp định thương mại song phương và đa phương sau đó cũng làm điều tương tự, chẳng hạn như Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng yêu cầu các bên loại bỏ dần thuế quan xuất khẩu. Vậy làtrong khi hầu hết các loại thuế xuất khẩu đang dần bị xóa bỏ bởi các hiệp định thương mại, một số nước lại được phép giữ mức thuế xuất khẩu trong một số điều kiện nhất định.
Tất nhiên, mọi nguyên tắc đều có những trường hợp ngoại lệ, như trường hợp tranh chấp đối với nguyên liệu thô và đất hiếm của Trung Quốc. Các tranh chấp này liên quan đến việc Trung Quốc hạn chế xuất khẩu một số khoáng chất nhất định – những khoáng chất mà Trung Quốc kiểm soát phần lớn nguồn cung trên thế giới, chẳng hạn như vonfram và molypden. Những biện pháp hạn chế bao gồm thuế (Trung Quốc đã đồng ý loại bỏ biện pháp này như một phần của thỏa thuận gia nhập WTO), hạn ngạch và giấy phép.
Các khoáng chất trên vốn là những yếu tố đầu vào cần thiết của một số ngành sản xuất.Bằng cách kiểm soát việc cung cấp nguyên liệu và hạn chế xuất khẩu, Trung Quốc buộc việc sản xuất các sản phẩm này phải diễn ra trong phạm vi biên giới Trung Quốc. Đây là tình huống tương tự như lệnh cấm xuất khẩu da để buộc việc sản xuất da diễn ra trong nội địa.
Mỹ, EU, Nhật Bản và những nước khác đã kiện lên WTO nhằm buộc Trung Quốc phải loại bỏ các biện pháp hạn chế xuất khẩu, hoặc nước này phải đối mặt với mức thuế trả đũa. Trung Quốc tuyên bố các biện pháp hạn chế xuất khẩu của mìnhđều dựa trên các trường hợp ngoại lệ của GATT. Vụ kiện này vẫn đang trong giai đoạn phúc thẩm, nhưng Ban hội thẩm của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) đã nhiều lần bác bỏ việc áp dụng các trường hợp ngoại lệ để hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô của Trung Quốc. Tương tự, những ngoại lệ này cũng không có khả năng che giấu được việc hạn chế xuất khẩu da nếu việc này bị đưa ra WTO.
Các điều khoản của GATT
Theo điều XI của GATT, một quốc gia có thể tạm thời hạn chế xuất khẩu nhằm ngăn chặn sự thiếu hụt trầm trọng của thực phẩm hoặc sản phẩm được coi là rất cần thiết đối với nước xuất khẩu. Đây là cơ chế an toàn cho phép các quốc gia sự có sự linh hoạt cần thiết để nhanh chóng phản ứng trước tình trạng hạn hán khắc nghiệt, thiên tai hoặc các tình huống khẩn cấp khác. Tuy có thể áp dụng các ngoại lệ này để đưa ra các biện pháp hạn chế với mục đích bảo vệ các yếu tố đầu vào cần thiết cho một ngành công nghiệp nội địa quan trọng, chẳng hạn như da sống để sản xuất da, nhưng việc áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu phải "tạm thời, và không được phép có thời hạn không xác định hoặc vĩnh viễn".
GATT cũng đưa ra những ngoại lệ chung rộng hơn trong Chương XX vàcó 3 trường hợp ngoại lệ chính trong chương này có liên quan đến nguyên liệu:
• Các biện pháp hạn chế có liên quan đến một nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt, và các biện pháp này cũng phải áp dụng đối với sản xuất trong nước
• Các biện pháp hạn chế xuất khẩu nguyên liệu là cần thiết cho ngành công nghiệp chế biến trong nước trong thời gian giới hạn, miễn là các hạn chế này không nhằm mục đích tăng xuất khẩu các sản phẩm thành phẩm của nguyên liệu trên.
• Các biện pháp hạn chế là cần thiết để mua hoặc phân phối các sản phẩm khan hiếm trên diện rộng hoặc bù đắp các thiếu hụt nguồn cung ở một quốc gia, nhưng tất cả các nước phải được hưởng một phần bằng nhau trong tổng cung của bất kỳ hàng hóa và biện pháp nào được đưa ra trong một thời gian ngắn.
Ngoại lệ đầu tiên không thể áp dụng đối với da sống bởi vì đây là nguồn tài nguyên có thể tái tạo. Tài nguyên bị cạn kiệt trong bối cảnh này thường liên quan đến dầu mỏ, khoáng sản và các mặt hàng thực sự sẽ bị cạn kiệt khác. Đây là trường hợp ngoại lệ chính được viện dẫn bởi Trung Quốc trong trường hợp "đất hiếm", nhưng không thể áp dụng cho trường hợp da.
Ngoại lệ thứ hai có thể được áp dụng để hạn chế xuất khẩu da nhưng hạn chế này chỉ được áp dụng trong thời gian ngắn và quan trọng hơn, không được làm gia tăng xuất khẩu thành phẩm da. Một quốc gia có thể cấm xuất khẩu da để dùng cho ngành công nghiệp sản xuất da trong nước, và thành phẩm sản xuất ra phải được tiêu thụ chính ở thị trường nội địa. Tuy vậy, điều này không thực tế đối với ngành công nghiệp sản xuất da toàn cầu ngày nay.
Ngoại lệ cuối cùng là tổng quát nhất, nhưng vẫn không thể viện dẫn nhằm biện minh cho việc hạn chế xuất khẩu da. Nhưng khi đó sẽ xảy ra tranh cãi rằng liệu da có đang bị thiếu trên diện rộng hoặc thiếu tại một vùng nào đó hay không. Do đó, viện dẫn theo ngoại lệ cuối cùng này vẫn sẽ bị DSB bác bỏ.
Theo http://www.leathermag.com - TV
Từ khóa: Hạn chế xuất khẩu, da, vi phạm, quy định, WTO, gia súc






















