
Kể từ khi thành lập vào năm 1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã giải quyết 83 vụ kiện liên quan đến việc áp đặt thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu. Cho đến nay, đây là chủ đề được khởi kiện nhiều nhất tại WTO. Gần đây nhất, Ban hội thẩm WTO đã ra phán quyết đối với lệnh áp thuế chống bán phá giá của Bộ Thương mại Mỹ (DOC) lên sản phẩm tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam (DS429). Trong quyết định của mình, WTO cho rằng trên một số khía cạnh Mỹ đã vi phạm Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) 1994.
DOC bắt đầu điều tra các cáo buộc cho rằng các nhà sản xuất/ xuất khẩu của Việt Nam bán phá giá tôm vào thị trường Mỹ vào tháng 01/2004 và áp đặt thuế chống phá giá đối với các sản phẩm này vào tháng 02/2005. Trong cuộc điều tra ban đầu và các cuộc rà soát hành chính tiếp theo, DOC đã áp dụng một phương pháp đặc biệt mà sử dụng cho các nền kinh tế được Mỹ xem là phi thị trường (NMEs), bao gồm cả Việt Nam. Đây cũng là phương pháp mà DOC áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Đối với các cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến NMEs, DOC giả định rằng tất cả các công ty tại Việt Nam về cơ bản là một thực thể do chính phủ kiểm soát do vậy cần phải chịu một mức thuế chung duy nhất. Để nhận được một mức thuế riêng, các nhà sản xuất/ xuất khẩu Việt Nam phải vượt qua một bài kiểm tra “riêng rẽ”. Ngoài ra, trong điều tra ban đầu và các cuộc rà giá tiếp theo, DOC đã áp dụng phương pháp được gọi là “quy về không - zeroing”, trong đó việc tính toán biên độ phá giá bình quân gia quyền của bất kỳ công ty cụ thể nào đều được quy về giá trị “0” đối với những giao dịch có biên độ phá giá âm.
Việt Nam đã phản đối một số hạng mục trong các biện pháp tính thuế chống bán phá giá của Mỹ. Thứ nhất, Việt Nam cho rằng phương pháp “zeroing” của DOC vi phạm các điều khoản của Hiệp định chống bán phá giá của WTO và GATT 1994. Thứ hai, DOC đã áp dụng mức thuế chung cho các nhà sản xuất/ xuất khẩu của Việt Nam dựa trên một giả định không phù hợp với Hiệp định Chống bán phá giá. Việt Nam cũng phản đối mục 129 của Thỏa thuận đàm phán Uruguay (URAA), một dự luật được Mỹ sử dụng để đưa ra các phán quyết không phù hợp với nguyên tắc của WTO.
Cuối cùng, Việt Nam phản đối cách tính toán của DOC trong rà soát cuối kỳ (rà soát hoàng hôn) khi ban hành lệnh chống bán phá giá lên tôm Việt Nam cũng như việc DOC đã không thực hiện thu hồi lệnh áp thuế đối với những công ty chứng minh được không có sự phá giá. Trong cả hai luận điểm trên, Việt Nam cho rằng DOC đã dựa vào các tính toán không phù hợp với quy định của WTO và do vậy phán quyết của DOC là đi ngược lại các nguyên tắc của WTO.
Với phương pháp quy về “không” của DOC, Ban Hội thẩm WTO cho rằng Mỹ đã vi phạm các nghĩa vụ của mình theo Điều 9.3 của Hiệp định chống bán phá giá và Điều VI: 2 của GATT 1994. WTO cũng lưu ý rằng Mỹ đã sử dụng những lý lẽ giống nhau cho những tranh chấp liên quan đến phương “zeroing” và vì vậy Cơ quan phúc thẩm WTO đã bác bỏ các luận điểm này. Cơ quan phúc thẩm WTO cho biết, không có “sự ưu tiên” nào trong quy định của WTO, “tuân theo kết luận trong các tranh chấp trước đó không chỉ thích hợp mà còn là điều mong đợi của Ban Hội thẩm WTO, đặc biệt trong những vấn đề giống nhau”.
Liên quan đến giả định của DOC về việc các nhà sản xuất/ xuất khẩu của Việt Nam là thực thể trong một nền kinh tế phi thị trường, Ban Hội thẩm WTO cho rằng, Việt Nam đã thành công trong việc thiết lập các tiêu chuẩn áp dụng chung, điều này đồng nghĩa với việc DOC cần sử dụng các biện pháp tính toán riêng lẻ thay vì áp dụng một biện pháp đặc biệt chung cho tất cả.
Theo http://www.mondaq.com/ - PC
Từ khóa: WTO, phương pháp tính thuế, chống bán phá giá, nền kinh tế phi thị trường, Bộ Thương mại Mỹ






















