
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là gì?
Mỹ đang tiến hành đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương với 11 quốc gia thuộc vành đai châu Á-Thái Bình Dương bao gồm: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, và Việt Nam. TPP là một hiệp định toàn diện về mở cửa thị trường, thiết lập nên các quy tắc thương mại tiêu chuẩn cao, và giúp giải quyết các vấn đề của nền kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21. Với những mục tiêu này, TPP được kỳ vọng là sẽ tạo thêm nhiều việc làm và thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế Mỹ cũng như các nền kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Chính quyền Obama ngày đêm theo đuổi TPP để có thể mở ra những cơ hội mới cho các nhà sản xuất, công nhân, các nhà cung cấp dịch vụ, nông dân, chủ trang trại của Mỹ. Các nhà đàm phán Mỹ đang làm việc chăm chỉ để đảm bảo rằng TPP sẽ trở thành một thỏa thuận thương mại toàn diện, tạo ra cách thức tiếp cận thị trường mới và có ý nghĩa thực sự cho hàng hóa và dịch vụ; các cam kết về tiêu chuẩn lao động và môi trường có hiệu lực thực thị cao; tạo ra các quy tắc mang tính đột phá để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và công ty tư nhân; cam kết cải thiện tính minh bạch và tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ; kiến tạo một khuôn khổ bảo vệ quyền sở trí tuệ mạnh mẽ để thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo, trong khi vẫn hỗ trợ việc tiếp cận thuốc gốc; cùng với nghĩa vụ thúc đẩy một không gian internet mở và một nền kinh tế kỹ thuật số phát triển mạnh.
Chính quyền Obama đang hướng tới các mục tiêu đàm phán được thiết lập bởi đạo luật Ưu tiên Thương mại và Trách nhiệm năm 2015 và cùng với đó là sự tham vấn thường xuyên với Quốc hội, các bên liên quan, và công chúng.
Tài liệu này ra đời nhằm mô tả các mục tiêu chính của chính phủ Obama khi tiến hành đàm phán TPP,và giới thiệu chi tiết các mục tiêu đàm phán của Mỹ. Cuộc đàm phán TPP đang diễn ra, rất nhiều các yếu tố chi tiết dưới đây vẫn chưa được giải quyết.Vẫn còn đó nhiều việc phải làm để theo đuổi tầm nhìn của Tổng thống Obama trong việc sử dụng thương mại như là công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ việc làm, tạo dựng các cơ hội cho người Mỹ thông qua quan hệ đối tác có lợi cho tất cả các nước TPP.
Lợi ích và giá trị Mỹ trong bối cảnh TPP
Chính sách thương mại của chính quyền Obama là bằng mọi cách tạo ra một sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp và người lao động Mỹ, từ đó giúp xuất khẩu hàng hóa sản xuất tại Mỹ được nhiều hơn và tào ra nhiều công ăn việc làm cho người dân Mỹ. Năm 2014, xuất khẩu của Mỹ đạt 2,35 nghìn tỷ USD, và tạo ra con số kỷ lục là hơn 11 triệu việc làm. Việc làm ở lĩnh vực này có thu nhập cao hơn 18% so với những công việc không liên quan đến xuất khẩu. Chính sách thương mại có vai trò quan trọng trong việc cao thu nhập và mức sống cho tầng lớp trung lưu. Như một phần hiệu quả từ sự thành công của xuất khẩu, nền kinh tế Mỹ đang tiếp tục phát triển sau gần hai thập kỷ suy thoái, số lượng các nhà máy mới đang gia tăng trở lại và việc làm trong khu vực sản xuất cũng đang bắt đầu quay trở về Mỹ.
Phía sau những con số thống kê này là sự thành công thực tế của các gia đình công nhân: trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp phụ tùng ô tô đã phải đóng cửa dây chuyền sản xuất của mình và tương lai trở nên vô cùng u ám do không tìm được thị trường nước ngoài; các thợ thủ công hiện đang phải tìm kiếm khách hàng trên toàn cầu thông qua internet, và các công ty công nghệ hoặc các trang trại gia đình được đảm bảo bằng các hợp đồng mới với nước ngoài.
"Made in America" đang đánh dấu một sự trở lại. Càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhỏ của Mỹ tham gia xuất khẩu. Nông dân Mỹ cũng đang xuất khẩu nhiều hơn bao giờ hết. Và Mỹ có thể có rất nhiều các nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ tham gia thị trường xuất khẩu so với trước đây. Tuy nhiên, người công nhân Mỹ hiện đang phải cạnh tranh với những người lao động từ những nước không đảm bảo quyền lao động cơ bản như quyền thành lập công đoàn độc lập, quyền được bảo vệ chống lại lao động cưỡng bức và lao động trẻ em, và kỳ thị lao động. Bảo vệ người lao động được nhìn từ cả hai phía, việc làm và cuộc sống của công nhân Mỹ, và sự không quan tâm đến nhân phẩm của người lao động ở nước ngoài. Đó là lý do tại sao TPP sẽ thực tế hóa các điều khoản bảo vệ lao động mạnh mẽ cho cả một khu vực chiếm đến 40% GDP thế giới.
Các doanh nghiệp Mỹ đang phải cạnh tranh với các công ty được trợ cấp từ chính phủ của họ hoặc là không bị ràng buộc phải duy trì các tiêu chuẩn về môi trường. Kết quả các công nhân của Mỹ ở quê nhà luôn là người bất lợi trong cuộc cạnh tranh này. Đó là lý do tại sao TPP là thỏa thuận đầu tiên có các điều khoản quy định về các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và có các cam kết mang tính đột phá để bảo vệ môi trường và các loài bị đe dọa ở 12 nước đối tác tham gia đàm phán.
Các doanh nghiệp nhỏ của Mỹ buộc phải đi trong mê cung các quy định của nước ngoài để tiếp cận khách hàng tại các thị trường đó. Đó là lý do tại sao mặc dù có rất nhiều các doanh nghiệp nhỏ tham gia xuất khẩu, nhưng phần lớn trong số đó chỉ tham gia ở một số ít thị trường nước ngoài. Trong số các doanh nghiệp nhỏ hiện đang tham gia xuất khẩu, chỉ có dưới 50% doanh nghiệp có nhiều hơn 1 thị trường nước ngoài, vì mỗi thị trường nước ngoài lại có một hệ thống luật pháp riêng. Đó cũng là lý do tại sao TPP hướng tới lợi ích cho các doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt, những doanh nghiệp không có đủ nguồn lực để có thể kết nối với nền kinh tế toàn cầu.
Chính quyền Obama không chấp nhận tiếp tục tình trạng tồi tệ này, tình trạng mà các công ty Mỹ phải cạnh tranh trong một thế giới với các luật chơi dường như là do Trung Quốc ấn định, chứ không phải Mỹ. TPP là nỗ lực của chính quyền Obama với chiến lược sử dụng thương mại quốc tế để tạo ra các cơ hội và việc làm, tạo sân chơi bình đẳng cho công nhân Mỹ, và chắc chắn rằng Mỹ phải là những người viết nên các quy tắc thương mại toàn cầu mà phản ánh lợi ích và các giá trị của Mỹ.
Các mục tiêu lớn của Mỹ
Mục tiêu của Mỹ trong lĩnh vực thương mại hàng hóa
Mục tiêu chính: Giúp các nhà sản xuất Mỹ bán được nhiều hàng hóa sản xuất tại Mỹ ra nước ngoài.
Mỗi ngày, Mỹ xuất khẩu hơn 1,9 tỷ USD hàng hoá sang các quốc gia TPP. Mỹ đang cố gắng thúc đẩy xuất khẩu bằng cách đàm phán tiếp cận thị trường toàn diện và ưu đãi thông qua việc mở rộng phạm vi miễn thuế cho hàng hóa công nghiệp, các sản phẩm thực phẩm, nông sản và dệt may, từ đó cho phép các nhà xuất khẩu Mỹ phát triển và gia tăng sự tham gia của mìnhvào chuỗi giá trị của các nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới.
Năm 2013, Mỹ đã xuất khẩu được hơn 622,5 tỷ USD giá trị sản phẩm sản xuất trong nước sang các nước TPP. Với viễn cảnh loại bỏ thuế quan giữa các nước TPP đối với các sản phẩm chế tạo, bao gồm cả các sản phẩm công nghệ cao, như máy móc công nghiệp và điện, các thiết bị cơ khí chính xác và dụng cụ khoa học, hóa chất và nhựa, hàng hóa của Mỹ sẽ tham gia cạnh tranh trong một sân chơi bình đẳng hơn cùng hàng hóa từ các nước có FTA với các quốc gia TPP như Trung Quốc, Ấn Độ và EU. Ví dụ một số loại phụ tùng xe hơi của Mỹ hiện đang phải chịu thuế 27% khi nhập khẩu vào Việt Nam, trong khi đó, các quốc gia có FTA với Việt Nam, như Trung Quốc, Thái Lan, và Indonesia, thì lại được ưu đãi miễn thuế nhập khẩu phụ tùng xe hơi. Bằng cách loại bỏ thuế quan đối với mặt hàng phụ tùng xe hơi mà các công ty Mỹ đang phải chịu đựng, TPP sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa Mỹ tại thị trường Việt Nam.
Hơn 25% thu nhập của các nông trại Mỹ đến từ xuất khẩu nông nghiệp và nguồn lợi xuất khẩu này quay trở lại hỗ trợ các cộng đồng nông thôn. Năm 2013, giá trị xuất khẩu thực phẩm và nông sản của Mỹ đã đạt mức cao, trên 148 tỷ USD. Trong số này có 58 tỷ USD là xuất khẩu sang các nước TPP –Giá trị này sẽ tăng vọt nếu các cam kết loại bỏ thuế quan trong TPP trở thành hiện thực. Hiện nay sản phẩm gia cầm Mỹ đang phải chịu thuế 40% khi xuất sang Malaysia, ngành công nghiệp gia cầm Mỹ sẽ chiếm lĩnh thị trường Malaysia nếu Hiệp định TPP giúp loại bỏ thuế quan với quốc gia này.
Mục tiêu đàm phán
- Hỗ trợ việc làm tại Mỹ.
- Xoá bỏ thuế quan thương mại giữa các quốc gia TPP và Mỹ nhiều nhất có thể, có tính đến sự cần thiết để có được cơ hội cạnh tranh cho xuất khẩu của Mỹ trong khi vẫn giải quyết được việc nhập khẩu những mặt hàng nhạy cảm. Bao gồm loại bỏ thuế quan cho hàng hóa sản xuất tại Mỹ và hầu hết các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ.
- Tiếp cận thị trường một cách đầy đủ thông qua việc giảm thuế đáng kể và hạn ngạch thuế suất ưu đãi đối với các sản phẩm khác.
- Xử lý các rào cản phi thuế quan đối với xuất khẩu của Mỹ, bao gồm cả các rào cản phân biệt đối xử về nông nghiệp và các sản phẩm khác, hạn chế các áp đặt về hạn ngạch thuế quan, hạn chế thương mại không công bằng, hoặc các biện pháp khác không công bằng mà được coi là hạn chế tiếp cận thị trường cho hàng hóa Mỹ.
- Có được quyền truy cập đầy đủ tương ứng ở thị trường các quốc gia TPP và nới lỏng các điều kiện thương mại cho sản phẩm dệt may của Mỹ (xem chi tiết hơn trong phần Dệt may).
- Thiết lập các quy tắc cho doanh nghiệp nhà nước để nâng cao tính minh bạch, loại trừ các hình thức bóp méo thị trường (xem chi tiết hơn trong phần doanh nghiệp nhà nước).
- Tái khẳng định và xây dựng các cam kết WTO về Hiệp định Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) (xem chi tiết hơn trong phần TBT).
- Tái khẳng định và xây dựng các cam kết WTO theo Hiệp định Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS).
- Đảm bảo không có cam kết yêu cầu thay đổi luật thuế chống bán phá giá và luật thuế đối kháng của Mỹ và thực hiện hoặc làm giảm khả năng của Mỹ trong việc thực thi có hiệu quả các luật này.
Mục tiêu của Mỹ trong lĩnh vực dệt may
Mục tiêu chính: Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may sản xuất tại Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Năm 2013, Mỹ sản xuất và xuất khẩu hàng dệt và may mặc trị giá hơn 10 tỷ USD sang các nước TPP, mức tăng trưởng đạt 5,4% so với năm 2012. Nhiều sản phẩm sợi, vải, hàng may mặc của Mỹ hiện đang phải chịu mức thuế rất cao ở các thị trường của một số nước TPP. Mục tiêu của Mỹ trong các cuộc đàm phán TPP là loại bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan cho hàng dệt và may mặc để nâng cao khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Các mục tiêu đàm phán
- Xoá bỏ thuế quan đối cho hàng dệt may của Mỹ khi xuất sang các nước TPP.
- Đảm bảo quy tắc xuất xứ “từ sợ trở đi - Yarn forward", theo đó, bắt buộc các sản phẩm dệt may được sản xuất từ vải dệt bằng sợi của Mỹ hoặc các nước TPP khác mới có đủ điều kiện hưởng hưu đãi thuế quan trong khối.
- Thiết lập danh sách các nguyên liệu "thiếu hụt nguồn cung" một cách cẩn thận theo đó cho phép mua nguyên liệu vải, sợi mà không có sẵn trong các nước TPP từ các nước ngoài TPP để sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất may mặc trong khu vực TPP mà không bị mất quyền ưu đãi thuế quan theo quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi”.
- Các điều khoản về thực thi nghiêm ngặt và các cam kết hợp tác hải quan về xác minh các khiếu nại về xuất xứ hoặc đối xử ưu đãi, và từ chối cung cấp ưu đãi, thông quan cho hàng hoá bị nghi ngờ nếu khiếu nại được xác minh là không có cơ sở.
- Thiết lập một cơ chế tự vệ đặc biệt cho lĩnh vực dệt may mà cho phép Mỹ và các nước TPP khác tái áp thuế đối với các chủng loại hàng hoá trong trường hợp xác định có sự gia tăng nhập khẩu đột biến gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước.
Mục tiêu của Mỹ trong lĩnh vực dịch vụ
Mục tiêu chính: Tăng cường cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Ngành công nghiệp dịch vụ tạo ra 4 phần 5 việc làm tại Mỹ, và Mỹ là quốc gia xuất khẩu dịch vụ lớn nhất thế giới. Năm 2014, giá trị xuất khẩu dịch vụ của Mỹ đạt 710 triệu USD, tạo ra khoảng 4,6 triệu việc làm và giúp gia tăng giá trị thặng dư thương mại dịch vụ lên đến 233 tỷ USD. Nhân viên lao động trong các ngành công nghiệp dịch vụ Mỹ bao gồm dịch vụ cung cấp Internet, công nghệ thông tin và dịch vụ phần mềm, dịch vụ chuyên nghiệp, dịch vụ tài chính; truyền thông đa phương tiện và giải trí; chuyển phát nhanh và hậu cần; nghiên cứu khoa học và phát triển, viễn thông, và một số ngành khác.
Bảo đảm tự do hoá và công bằng cho cho việc tiếp cận thị trường dịch vụ nước ngoài sẽ giúp nhà cung cấp dịch vụ, cả lớn và nhỏ của Mỹ gia tăng xuất khẩu sang các thị trường TPP và tạo thêm nhiều việc làm tại Mỹ.
Mục tiêu đàm phán
- Mở rộng cơ hội thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ của Mỹ bằng cách giảm các rào cản đối với thương mại dịch vụ quốc tế.
- Đảm bảo rằng các nước TPP không phân biệt đối xử chống lại các nhà cung cấp dịch vụ của Mỹ.
- Duy trì quyền lực của chính phủ trong việc thiết lập các tiêu chuẩn an toàn chất lượng, điều hoà lợi ích công cộng, và cung cấp các dịch vụ công.
- Cải thiện tính minh bạch và khả năng dự báo liên quan đến lĩnh vực dịch vụ.
- Thiết lập các điều khoản mà có thể cho phép các nhà cung cấp dịch vụ thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ mà không cần phải thiết lập văn phòng địa phương ở tất cả các nước TPP.
- Các cam kết chắc chắn về việc chuyển tiền liên quan đế hoạt độngcung cấp dịch vụ xuyên biên giới được phépthực hiện một cách tự do và không chậm trễ, trong khi vẫn đảm bảo chính phủ vẫn có thể linh hoạt để quản lý các dòng vốn dễ biến động này.
- Thiết lập mới hoặc nâng cao nghĩa vụ trong các lĩnh vực quan trọng cụ thể mà có ảnh hưởng đến sự thúc đẩy thương mại (ví dụ như dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ này phát triển giúp thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ, vì các doanh nghiệp này thường phụ thuộc rất nhiều vào các dịch vụ chuyển phát nhanh để hội nhập vào chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối).
- Đảm bảo rằng lợi ích của lĩnh vực dịch vụ TPP sẽ không chia cho các công ty “đội lốt”, được kiểm soát bởi các nước ngoài TPP.
- Có các các cam kết tự do hóa thị trường dịch vụ tài chính và thị trường bảo hiểm nước ngoài trong khi vẫn đảm bảo sự linh hoạt của chính phủ trong việc điều chỉnh, kể cả trong các lĩnh vực tài chính, và có những hành động cần thiết nhằm giữ ổn định và tính toàn vẹn của hệ thống tài chính Mỹ.
- Các cam kết về dịch vụ tài chính cụ thể bao gồm:
- Cho phép nhà quản lý danh mục đầu tư có trụ sở bên ngoài lãnh thổ (trừ công ty tín thác đầu tư) tư vấn cho nhà quản lý tài sản nằm trong lãnh thổ.
- Không cho phép cung cấp ưu đãi cho tổ chức bưu chính bán bảo hiểm trực tiếp, kể cả việc các tổ chức này cung cấp quyền ưu đãi cho các kênh phân phối hoặc tạo điều kiện nới lỏng nghĩa vụ thực thi của các tổ chức này.
- Cho phép các dịch vụ thanh toán điện tử xuyên viên giới,tạo cơ hội phát triển mới cho các nhà cung cấp tín dụng điện tử và các dịch vụ thanh toán thẻ ghi nợ của Mỹ, một lĩnh vực mới có tăng trưởng mạnh trong dịch vụ tài chính.
- Cho phép các thông tin xử lý dữ liệu được chuyển tự do xuyên biên giới khi các tiến trình xử lý dữ liệu này là nhu cầu thiết yếu trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của tổ chức tài chính.
Theo https://ustr.gov – PT
Từ khóa: Hiệp định, Đối tác xuyên Thái Bình Dương, những mục tiêu đàm phán, của Mỹ






















