JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Chuyên đềHiệp định đã ký kếtCPTPPTin tứcTổng hợp diễn biến đàm phán hiệp định TPP đến hết tháng 8/2015

Tổng hợp diễn biến đàm phán hiệp định TPP đến hết tháng 8/2015

TPP-2

Trong tháng 8/2015, diễn biến đàm phán hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có nhiều tín hiệu tích cực.

Bộ trưởng Thương mại New Zealand: TPP không phải chỉ phản ánh lợi ích của Mỹ và Nhật Bản

Trong bài trả lời phỏng vấn nhật báo kinh doanh Nikkei, Bộ trưởng Thương mại New Zealand Tim Groser khẳng định hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bao gồm 12 quốc gia phải phản ánh tốt quyền lợi của tất cả các nước tham gia chứ không phải chỉ quyền lợi của hai nước Mỹ và Nhật Bản.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Tim Groser phủ nhận New Zealand là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của vòng đàm phán TPP gần đây khi tiếp tục duy trì quan điểm cứng rắn về tiếp cận thị trường sữa.

Những bất đồng lâu nay liên quan đến các vấn đề thương mại ô tô giữa Nhật Bản và các nước Bắc Mỹ, xuất khẩu sữa của New Zealand và thời hạn bảo hộ bản quyền của các loại dược phẩm mới đã khiến các Bộ trưởng không thể kết thúc đàm phán hiệp định TPP.

"Vấn đề chính là các cuộc đàm phán TPP không phải là đàm phán song phương giữa Mỹ và Nhật Bản. Có 12 nước tham gia TPP và lợi ích của họ phải được thể hiện trong TPP trước khi các nước đạt được một hiệp định cân bằng lợi ích. Thỏa thuận song phương Mỹ-Nhật Bản về mặt hàng ô tô hoàn toàn không tính đến mong muốn của Mexico và Canada trong khi TPP cũng không giải quyết được quyền lợi của New Zealand đối với các sản phẩm sữa”, Bộ trưởng Tim Groser khẳng định.

Bộ trưởng Tim Groser cũng bác bỏ thông tin trên các phương tiện truyền thông Nhật Bản cho rằng New Zealand đang có dự định đánh đổi điều kiện tiếp cận thị trường sữa lấy những nhượng bộ về thời hạn bảo hộ bản quyền dược phẩm.

"Đó là một đánh giá hoàn toàn sai lầm về vòng đàm phán TPP ở Hawaii vừa qua. Trên thực tế, chúng tôi thậm chí chưa bao giờ đưa ra những nhượng bộ nhỏ nhất về quyền lợi của New Zealand", Bộ trưởng Tim Groser cho biết.

Hiện nay, thời hạn cho vòng đàm phán TPP tiếp theo chưa được thông báo nhưng các nước đang nỗ lực nhanh chóng ấn định thời điểm.

"Việc sớm ấn định thời điểm vòng đàm phán TPP tiếp theo thực sự quan trọng vì chúng ta đang duy trì đà đàm phán. Nếu chúng ta mất đà thì có thể sẽ mất tất cả", Bộ trưởng Tim Groser nhận định.

Đón đầu TPP, hàng tỷ USD vốn ngoại 'ồ ạt' đổ vào dệt may

Theo tiêu chuẩn về quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” đối với hàng dệt may yêu cầu các sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam phải có nguyên phụ liệu như vải, sợi xuất xứ từ một trong các nước thành viên TPP mới được hưởng ưu đãi thuế quan.

Do đó, để tận dụng ưu đãi thuế, các nhà sản xuất hàng may mặc Việt Nam đang đứng trước 2 lựa chọn: tự sản xuất nguyên phụ liệu dệt may trong nước hoặc nhập khẩu nguyên phụ liệu từ một nước thành viên TPP; thay vì nhập khẩu từ Trung Quốc như trước đây.

Vì vậy nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vốn lớn vào Việt Nam với các khâu sản xuất sợi, dệt, nhuộm, may... nhằm đón đầu TPP.

Dự án 274 triệu USD của Far Eastern Group (Đài Loan) vào Bình Dương

Cuối tháng 6, UBND tỉnh Bình Dương đã trao giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty TNHH Polytex Far Eastern (Đài Loan) đầu tư vào một dự án sản xuất hàng may mặc trị giá 274 triệu USD.

Đây là dự án FDI lớn nhất vào Bình Dương từ đầu năm 2015 tới nay, với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 274 triệu USD và diện tích đất thuê là 99 ha.

Đây là nhà máy thứ ba của công ty này sau Trung Quốc, Đài Loan và là nhà máy đầu tiên tại VN, thuộc nhóm sản phẩm trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ với công suất khá lớn gồm: sản phẩm sợi xơ tổng hợp (công suất khoảng 43.200 tấn/năm); sản phẩm dệt kim, nhuộm… công suất 127 triệu m2/năm, sản phẩm kéo sợi cotton 96 triệu m2/năm.

Ông Cheng Chen Yu - Chủ tịch HĐQT Công ty Polytex Far Eastern VN cho biết, công ty đánh giá cao tiềm năng của thị trường Việt Nam và dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng nhà máy giai đoạn 2 với quy mô từ 700 triệu - 1 tỷ USD.

“Việc đầu tư nhà máy tại Việt Nam là để đón đầu Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)” – ông Yu nói.

UBND tỉnh Bình Dương cũng cho biết trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp FDI có xu hướng đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp phụ trợ để đón đầu các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và đang tham gia.

Dự án 660 triệu USD của Công ty Hyosung (Hàn Quốc) vào Đồng Nai

Trước đó, vào tháng 5/2015, UBND tỉnh Đồng Nai chính thức trao giấy chứng nhận đầu tư cho dự án 660 triệu USD của Công ty Hyosung Đồng Nai tại KCN Nhơn Trạch 5, tỉnh Đồng Nai.

Dự án của Hyosung Đồng Nai được xây dựng trên diện tích 22 hécta với tổng nguồn vốn lên đến 660 triệu USD. Nhà máy của Hyosung Đồng Nai chủ yếu sản xuất và gia công các loại sợi, vải bao gồm: vải mành, vải dệt; sản xuất halogen, oxit halogenua của phi kim loại và nguyên phụ liệu dùng để sản xuất sợi spandex.

Như vậy, cho đến nay, Hyosung đã có 2 dự án đầu tư ở Đồng Nai. Tổng vốn đầu tư của hai nhà máy đã lên tới 995 triệu USD và được xây dựng trên diện tích 90 ha.

Dự án 300 triệu USD của Công ty TNHH Worldon Vietnam (Hồng Kông) vào TP Hồ Chí Minh

Dự án của Công ty TNHH Worldon Việt Nam (Hồng Kông) tổng vốn đầu tư 300 triệu USD tại Tp Hồ Chí Minh với mục tiêu sản xuất sản phẩm may mặc cao cấp. Dự án này được triển khai tại khu công nghiệp Đông Nam, huyện Củ Chi với diện tích đất lên tới hơn 50 héc ta.

Vấn đề dược phẩm trong TPP

Đối với chính quyền ông Obama, cảm giác phấn khởi khi quốc hội Mỹ thông qua Quyền xúc tiến thương mại trong tháng 6/2015 hiện đã bị thay bằng cảm giác thất vọng. Mặc dù nhiều nước thành viên đã dự đoán TPP sẽ có kết quả cuối cùng tại vòng đàm phán ở Hawaii vào cuối tháng 7 này, nhưng đàm phán TPP lại kết thúc mà không đạt được tiến triển gì vượt bậc.

Các điểm mâu thuẫn dai dẳng trong đàm phán TPP có thể kể đến tranh chấp giữa 3 nước Mexico, Nhật Bản và Mỹ liên quan đến thuế xe tải, và vấn đề tiếp cận thị trường Canada đối với các sản phẩm sữa của New Zealand. Chiến dịch tranh cử của Canada có thể làm tê liệt khả năng hoàn tất một thỏa thuận vào mùa thu của quốc gia này; và nếu mọi thứ kéo dài lâu hơn nữa, TPP có thể sẽ bị vướng vào các vấn đề chính trị liên quan đến việc bầu cử tổng thống ở Mỹ.

Nhưng trong vòng đàm phán TPP gần đây nhất, không có vấn đề nào gây tranh cãi nhiều bằng vấn đề sở hữu trí tuệ và các phương thức bảo vệ khác dành cho ngành công nghiệp dược phẩm Mỹ. Đương nhiên, từ "bảo vệ" khôngthể nằm trong các cuộc đàm phán về thương mại tự do. Những người chỉ trích hiệp định TPP cho rằng Big Pharma, được tiếp tay bởi các nhà đàm phán của Tổng thống Obama, đang cố gắng dùng TPP để đạt được quyền kiểm soát lớn hơn đối với thị trường thuốc thế giới.

Điều này không chỉ không hiệu quả về mặt kinh tế mà còn đi ngược lại về mặt đạo đức. Với lập luận rằng các bằng sáng chế của các doanh nghiệp dược phẩm đang bị xâm phạm, cùng các quy định về tiếp cận thị trường Mỹ,các phương pháp chữa trị tiên tiến sẽ bị buộc tăng giá ở các nước thành viên TPP đang phát triển như Peru và Việt Nam, và thậm chí khiến cácnước phát triển như Úc hoặc New Zealand phải giảm việc kiểm soát chi phí dược phẩm trong hệ thống y tế chi trả duy nhất của mình.

Nhưng nhìn từ mặt khác, ở một mức độ nhất định, Mỹ đã chi trả nhiều hơn chi phí trung bình của thế giới trong việc phát triển và phân phối các loại dược phẩm mới. Nguyên nhân vì chỉ có Mỹ mớicho phép các nhà sản xuất thuốc bù đắp chi phí đắt đỏ khi tìm ra một phương thức chữa bệnh mới thông qua việc cung cấp sự bảo vệ chặt chẽ đối với bằng sáng chế,và quyền định giá khi các nhà sản xuất thuốc giao dịch với các chương trình chăm sóc y tế của chính phủ, chẳng hạn như Medicare.

Trong khi đó, hệ thống chăm sóc y tế của các nước khác lại nhập khẩu dược phẩm và bán các sản phẩm này với mức giá thấp hơn ở Mỹ.Nhìn từ quan điểm của ngành công nghiệp dược phẩm Mỹ, một số nước thành viên TPP đang cố gắng né tránh phát triển một hệ thống nghiên cứu thuốc mới, mà lạiđẩy chi phí nghiên cứu thuốc cho người nộp thuế Mỹ.

Đối với vấn đề này, thật ra Big Pharma cũng không hoàn toàn sai. Mặc dù hệ thống y dược vì lợi nhuận ở Mỹ có những điểm thiếu hiệu quả, chẳng hạn như chi phí quảng bá cao, nhưng nếu nhìn tổng thể thì hệ thống này đã phục vụ Mỹ và cả thế giới khá tốt, vì hệ thống này thúc đẩy được nhiều đổi mới hơn so với một hệ thống nghiên cứu bị nhà nước chi phối.

Mỹ nên có chính sách phù hợp hơn đối với các nước TPP đang phát triển, nhằm khiến chi phí đối với việc bảo vệ bằng sáng chế cho các nhà sản xuất thuốc sẽ được chi trả bởi những nước có đủ khả năng hơn. Đây mới là mục tiêu đúng đắn, và các nhà đàm phán Mỹ nên theo đuổi mục tiêu này đến khi thỏa thuận cuối cùng được đưa ra, chứ không nên tiếp tục theo đuổi các vấn đề buộc tội đối với các vi phạm sở hữu trí tuệ - vấn đề đang gây khó khăn cho các cuộc đàm phán TPP.

Nhật Bản khẳng định TPP không phải là nơi đàm phán vấn đề tiền tệ

Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Taro Aso đã bác bỏ lời kêu gọi đưa chủ đề tiền tệ vào trong các cuộc đàm phán hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhằm ngăn chặn các nước thao túng tỷ giá hối đoái.

Ý kiến ​​của Bộ trưởng Taro Aso được đưa ra sau khi Bộ trưởng Thương mại Australia cho biết các nước tham gia đàn phán TPP đang xem xét một đề xuất của Mỹ đề nghị các Bộ trưởng tài chính thảo luận về vấn đề tiền tệ. Đề xuất của Mỹ được đưa ra sau khi hãng Ford Motor và một số nhà lập pháp Mỹ kêu gọi đưa các biện pháp chế tài xử phạt hành vi thao túng tiền tệ vào trong các hiệp định thương mại.

"Chúng tôi cho rằng TPP cơ bản không phải là nơi để đàm phán tiền tệ vì vấn đề này đã được xử lý hoàn toàn trong khuôn khổ IMF, G7 và G20. Ngay cả khi Nhật Bản và Mỹ thúc đẩy vấn đề này, các nước khác sẽ không ủng hộ. Chúng tôi chưa nghe thấy bất cứ điều gì cụ thể nên không cho rằng vấn đề chính sách tiền tệ đang được thảo luận", Bộ trưởng Aso phát biểu trong cuộc họp báo sau phiên họp nội các Nhật Bản.

Một cố vấn kinh tế cao cấp của Thủ tướng Shinzo Abe cũng nhắc lại mối quan ngại các cuộc tranh luận về tiền tệ có thể cản trở các nỗ lực tự do hóa thương mại.

"Khi đưa các vấn đề của thị trường hối đoái vào các cuộc đàm phán thương mại sẽ làm giảm lợi ích của tự do hóa thương mại. Tiền tệ là vấn đề không liên quan", ông Koichi Hamada, Giáo sư kinh tế tại Đại học Yale trả lời hãng tin Jiji bên lề một hội nghị quốc tế ở Tokyo.
Đồng Yên Nhật Bản (JPY) đã mất hơn 1/3 giá trị so với đồng USD kể từ cuối năm 2012 sau khi Thủ tướng Abe lên nắm quyền, tiến hành chính sách nới lỏng tiền tệ để vực dậy nền kinh tế.
Tỷ giá hối đoái yếu khiến cho hàng hóa xuất khẩu của một nước rẻ hơn và tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể cho các nhà xuất khẩu.

TPP: Bước phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực

Cuộc đàm phán gần đây nhất về Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Hawaii vẫn còn vướng mắc một số điều khoản vào phút chót. Tuy nhiên, các bên vẫn kỳ vọng hiệp định có thể được ký kết vào cuối năm nay.

Trong mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, nếu TPP được hình thành sẽ là bước phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực mà thương mại vẫn là chủ lực.

Kỳ vọng về kinh tế từ TPP

Từ con số gần 500 triệu USD cách đây 20 năm, kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian gần đây đã đạt 35 tỷ USD và dự kiến lên đến 40 tỷ USD trong năm 2015. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với tỷ trọng 19,7% với khoảng gần chục mặt hàng có giá trị xuất khẩu 1 tỷ USD/năm như dệt may, giày dép, đồ gỗ, thủy sản…

Theo đánh giá của giáo sư Peter A. Petri – Đại học Brandeis (Mỹ), GDP Việt Nam có cơ hội tăng thêm 35,7 tỷ USD (tương đương 10,5%) từ nay tới năm 2025.

Ông Lê Quốc Ân – Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam cho biết, hiện nay Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành dệt may nước ta, chiếm 55% thị phần toàn ngành. Tính đến tháng 4/2015, Việt Nam chiếm khoảng 10,16% tổng thị phần hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, chỉ xếp thứ hai sau Trung Quốc.

Khi mức thuế suất bình quân đối với mặt hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ từ 17,3% hạ xuống 0%, kim ngạch xuất khẩu dệt may vào thị trường này có thể đạt tới 22 tỷ USD vào năm 2020 và tăng khoảng 46% trong 5 năm kế tiếp.

Tuy nhiên, quan trọng hơn là quan hệ làm ăn với Hoa Kỳ đã giúp nâng cao chất lượng của mặt hàng dệt may. Ông Lê Quốc Ân nhìn nhận: “Suy nghĩ rằng ngành dệt may Việt Nam làm công ăn lương không còn đúng nữa. Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ không thích hàng gia công nên các khâu cắt may, thiết kế, phân phối… đều do chúng ta thực hiện. Nhờ đó, hàng xuất khẩu ngày nay có giá trị gia tăng rất lớn, tỷ lệ thặng dư lên đến 50%”.

Cũng có cái nhìn lạc quan về quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong tương lai, ông Lê Phước Vũ – Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen cho rằng, sau khi TPP có hiệu lực, cơ hội gia tăng giá trị sẽ càng lớn hơn theo mô hình “đàn sếu bay” ở khu vực Đông Á và Việt Nam có thể trở thành công xưởng của thế giới trong một số lĩnh vực công nghiệp nền tảng và một vài ngành công nghệ cao.

Đây là nỗ lực tích lũy tư bản, công nghệ ở các nước đi sau được thúc đẩy bằng đầu tư trực tiếp nước ngoài và các hình thái chuyển giao công nghệ khác từ các nền kinh tế đi trước. Trong mô hình này, các nền kinh tế đi trước sau khi mất lợi thế so sánh trong ngành nào đó buộc phải nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang những ngành khác có giá trị gia tăng lớn hơn, tất nhiên với trình độ công nghệ cao hơn. Đây là hiện tượng đuổi bắt nhiều tầng trong quá trình công nghiệp hóa ở Đông Á, tạo nên tính năng động cho vùng này.

Còn nhớ, nền công nghiệp thép phát triển đầu tiên tại châu Âu, đến khi giá nhân công và đồng nội tệ ở đất nước này tăng giá thì ngành thép dịch chuyển sang Mỹ, rồi lần lượt đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc. Đến nay, nền kinh tế Trung Quốc đã tương đối phát triển, giá nhân công tăng và giá trị đồng nội tệ cũng tăng nên ngành thép đang dịch chuyển sang khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Do vậy, đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp sản xuất tôn thép phát triển.

Hiện nay Tập đoàn Hoa Sen đang tập trung đầu tư mở rộng sản xuất theo công nghệ hiện đại, gồm hai nhà máy với dây chuyền cán nguội và công suất thiết kế 1,2 triệu tấn/năm, dây chuyền sản xuất tôn mạ với tổng công suất thiết kế 1 triệu tấn/năm… nhằm đón đầu xu thế hội nhập ngay sau khi TPP được ký kết.

Các doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt cơ hội từ TPP

TPP được cho là sẽ tạo ra một sân chơi bình đẳng nhưng nhiều ý kiến phân tích lại chỉ ra rằng TPP chưa hẳn đã công bằng với các nền kinh tế đang phát triển khi đề ra những quy tắc bình đẳng đối với các đối tác có thế không ngang bằng nhau.

Theo phân tích của ông Phạm Phú Ngọc Trai – Chủ tịch Công ty Tư vấn kinh doanh hội nhập toàn cầu (GIBC), các điều khoản trong TPP cấm sử dụng chính sách thương mại để bảo vệ ngành công nghiệp nội địa, trong khi Việt Nam hiện có hơn 80% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên chắc chắn lực lượng này sẽ rất khó khăn khi phải chơi cùng một sân với các doanh nghiệp nước ngoài đã tích lũy dày dặn vốn liếng, kiến thức, kinh nghiệm quản lý và quen ứng phó với sự biến đổi mau lẹ của thị trường trong cả phạm vi khu vực lẫn toàn thế giới.

Mặt khác, TPP đề nghị các nền kinh tế thành viên chia nhỏ và giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước, mà đó lại là nền tảng của chiến lược công nghiệp hóa thành công tại các nước đang phát triển trong nhiều thập niên qua, trong đó có Việt Nam.

Đối với Việt Nam, TPP còn đề xuất cắt giảm đáng kể sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp này, thậm chí đề nghị nên bán đi hầu hết doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, ông Lê Phước Vũ nhắc lại quan điểm khá rõ của Việt Nam là vẫn cần có những đầu tàu là các tập đoàn, công ty nhà nước lớn có sức mạnh tổng hợp mới đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước khác trong bối cảnh hội nhập.

Khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang kỳ vọng về quá trình chuyển giao công nghệ mạnh mẽ hơn từ Hoa Kỳ sau TPP. Trên thực tế, việc hợp tác trong lĩnh vực công nghệ với Hoa Kỳ đã diễn ra cách đây hơn 20 năm, nổi bật nhất là trong lĩnh vực dầu khí và công nghiệp chế biến, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Việt Nam.

Ông Trần Tuấn Anh – Thứ trưởng Bộ Công thương khẳng định rằng về nguyên tắc, Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi, môi trường, khuôn khổ pháp lý phù hợp, còn việc hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, công nghệ cụ thể thì các doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt và thực hiện. Trong những năm tới, Nhà nước sẽ tiếp tục nỗ lực đổi mới, đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách các loại thủ tục thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, khởi nghiệp… nhằm tạo môi trường đầu tư hấp dẫn hơn cho các doanh nghiệp nước ngoài.

Vị lãnh đạo này còn cho biết thêm: “Luật Đầu tư mới sửa đổi của Việt Nam được các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ đánh giá cao vì đã cắt giảm đáng kể các lĩnh vực hạn chế đầu tư nước ngoài. Đồng thời, họ cũng nêu một số kiến nghị nhằm cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam. Về phần mình, các doanh nghiệp Việt Nam cần tích cực cải thiện năng lực quản trị cũng như phát triển nguồn nhân lực để tạo uy tín, thu hút tốt hơn nguồn đầu tư công nghệ từ Hoa Kỳ”.

Thích nghi trong giao thương với Hoa Kỳ

Những năm gần đây, hoạt động kinh tế, giao lưu thương mại giữa hai nước ngày càng sôi động hơn nhưng vẫn còn nhiều trường hợp phải qua trung gian là các doanh nghiệp Hong Kong, Hàn Quốc, Đài Loan nên giá trị gia tăng trong xuất khẩu và việc phát huy thế mạnh của từng ngành còn bị hạn chế.

Theo nhà nghiên cứu kinh tế Huỳnh Thế Du, cơ hội cho xuất khẩu trực tiếp nhiều mặt hàng vào Hoa Kỳ không thiếu, song vấn đề nằm ở chỗ các doanh nghiệp nước ta chưa nắm kỹ các đòi hỏi và những tiêu chuẩn đặc thù của thị trường này. Hy vọng những quy định cụ thể về hàng rào kỹ thuật, quy tắc xuất xứ từ TPP sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tự tin hơn trong làm ăn và đường giao thương thẳng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ rộng mở hơn, hạn chế được tối đa khâu trung gian.

Thực trạng tranh chấp thương mại ở Hoa Kỳ đã và vẫn sẽ là một thực tế mà các nhà xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt. Ông Lương Văn Tự – nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn Đàm phán WTO của Việt Nam nêu lên một thực tế là các doanh nghiệp Việt Nam thường chấp nhận bán giá rẻ để giành mối. Khi tham gia vào các hiệp định thương mại quốc tế, nếu doanh nghiệp bán hàng với giá thấp để cạnh tranh thì rất dễ bị kiện bán phá giá.

Mặt khác, các nhà sản xuất nội địa của Hoa Kỳ đã quen sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, thậm chí còn lạm dụng để bảo hộ cho sản xuất trong nước. Trong tương lai, một khi hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng mạnh, nguy cơ phát sinh thêm nhiều kiện cáo là điều khó tránh.

Do vậy, để đối phó với các vụ kiện phòng vệ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, doanh nghiệp Việt Nam cần trang bị đầy đủ kiến thức, nắm vững các yếu tố về kỹ thuật để đáp ứng đúng các yêu cầu theo pháp luật của Hoa Kỳ theo hướng có lợi nhất cho mình và giảm thiểu thiệt hại nếu có. Những phương pháp khác như ngoại giao, tạo làn sóng phản đối từ các phương tiện truyền thông tại Việt Nam thường không có tác dụng bao nhiêu trong quá trình này.

Ngành linh kiện ô tô Canada lo ngại về đề xuất xe nhập khẩu trong TPP

Các nhà sản xuất linh kiện ô tô Canada cho biết họ đang lo lắng về triển vọng Nhật Bản giành quyền bán xe ô tô miễn thuế trong khu vực các nước thành viên hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong tương lai với tỉ lệ lớn linh kiện xe được sản xuất ở các nước có chi phí thấp chưa tham gia TPP.

Hiệp hội Các nhà sản xuất linh kiên ô tô Canada (APMA) dự báo điều này sẽ gây thiệt hại cho các doanh nghiệp ngành ôtô Canada.

Tờ The Globe and Mail tiết lộ, Nhật Bản đã cố gắng giành được quyền bán xe ô tô miễn thuế trong khu vực 12 nước thành viên TPP với tỉ lệ lớn linh kiện xe được sản xuất ở các nước chưa tham gia ký kết TPP. Nhật Bản luôn muốn các công ty xe hơi nước mình được lắp ráp linh kiện từ các nước cung cấp có chi phí thấp nhưng chưa tham gia TPP như Thái Lan.

"Các báo cáo hiện nay cho thấy một số quốc gia thành viên đang tìm cách có được tỉ lệ thấp linh kiện ô tô có xuất xứ từ chính các nước đó để hưởng lợi thế chi phí thấp từ các nhà sản xuất bên ngoài TPP. Đây chính là mối quan tâm của các nhà cung cấp linh kiện ô tô Canada", Chủ tịch APMA Flavio Volpe khẳng định.

Các nhà sản xuất linh kiện ô tô Canada, một thành phần quan trọng của ngành ô tô Canada, đã phát triển mạnh mẽ sau khi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết. Theo NAFTA, xe ô tô sẽ được hưởng mức thuế suất nhập khẩu 0% tại cả ba quốc gia Canada, Mexico và Mỹ nếu tỉ lệ linh kiện sản xuất tại một trong ba quốc gia đạt 62,5%.

"Các nhà sản xuất linh kiện ô tô Canada đang có vị thế rất cạnh tranh so với các đối tác khác trong khu vực NAFTA và chứng minh được khả năng phục hồi tương đối tốt trong suốt cuộc suy thoái và hồi phục toàn cầu", Chủ tịch Volpe cho biết.

Theo bài báo trên tờ The Globe, Canada và Mexico lo ngại trước thỏa thuận song phương giữa Mỹ và Nhật Bản hạ thấp tỉ lệ linh kiện sản xuất trong khu vực TPP đối với xe được miễn thuế nhập khẩu. Các phương tiện truyền thông khác cho biết, ban đầu Nhật Bản đề nghị ngưỡng 30% tỉ lệ linh kiện trong TPP nhưng Mỹ đòi hỏi ở mức 55% và hai bên đã thống nhất ở mức thấp hơn 55%.

Bất đồng xung quanh tỉ lệ linh kiện ô tô là một trong một số ít các vấn đề như tiếp cận thị trường sữa nước, làm thất bại cuộc đàm phán TPP gần đây tại quần đảo Hawaii.

Một nguồn tin thân cận với các cuộc đàm phán cho biết, tại cuộc đàm phán TPP gần đây ở đảo Maui (Hawaii), các nhà đàm phán của Canada mới biết Mỹ đã thỏa thuận với Nhật Bản về tỉ lệ linh kiện xe ô tô cần phải đến từ các nước TPP. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất đối với Canada lại là các đề xuất miễn thuế mà Mỹ đồng ý với Nhật Bản lại có thể dành cho Nhật Bản quyền được hưởng tỉ lệ linh kiện nội khối TPP ít hơn các nước TPP còn lại.

"Nếu có sự miễn trừ ngoại lệ nào đó trong các quy tắc xuất xứ thì có thể sẽ gây thiệt hại cho các chuỗi cung ứng linh kiện ô tô của Canada", nguồn tin trên cho biết thêm.

Ví dụ, nếu linh kiện hưởng quyền miễn trừ đang được các nhà sản xuất linh kiện Canada cung cấp nhưng Nhật Bản có thể nhập khẩu các linh kiện thay thế có giá thấp hơn từ các nước ngoài khu vực TPP, như Thái Lan, thì đã lấy đi công việc của các nhà sản xuất linh kiện Canada.
Theo các nhà đàm phán TPP, trên thực tế, Canada đang là trung tâm của cả hai trở ngại lớn đối với TPP: mặt hàng ô tô và sữa. Cho đến nay, Chính phủ Canada vẫn từ chối mở cửa thêm thị trường sữa đang được bảo hộ cho sữa nhập khẩu nước ngoài. Trong khi đó, Mỹ đang tìm kiếm thị trường mới cho ngành sữa nước mình mặc dù được dự báo nếu TPP được ký kết nhiều lô hàng sữa New Zealand sẽ thâm nhập được vào thị trường Mỹ.

Về phần mình, chính phủ Nhật Bản đã rất ngạc nhiên khi biết rằng Canada và Mexico đã không được tham vấn về thỏa thuận ô tô giữa Mỹ và Nhật Bản. "Nhật Bản không thể hiểu nổi khi biết thỏa thuận ô tô với Mỹ đã không được tất cả ba đối tác NAFTA xem xét hoặc xác nhận", nguồn tin nói trên khẳng định.

Sau từ chối đề nghị của Nhật Bản và Mỹ về mặt hàng ô tô tại Hawaii, Canada và Mexico đang chuẩn bị đề xuất của riêng họ về các quy tắc tỉ lệ linh kiện.
"Mexico và Canada phải đưa ra một đề nghị với Nhật Bản. Chúng ta phải đi đến một thỏa thuận mà cả bốn nước Canada, Mỹ, Mexico và Nhật Bản đều có thể chấp nhận được", Chủ tịch Volpe khẳng định.

Chủ tịch Volpe cũng không quyên ca ngợi chính phủ Canada vì đã từ chối chấp nhận thỏa thuận giữa Mỹ và Nhật Bản. "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ nỗ lực của Chính phủ Canada bảo vệ ngành sản xuất linh kiện ô tô và tiếp tục hoan nghênh nỗ lực từ chối tỉ lệ linh kiện ô tô nội khối TPP quá thấp, gây ra nhiều rủi ro cho tương lai của chúng tôi trong thị trường ô tô cạnh tranh rất mạnh trên toàn cầu. Sự thịnh vượng 85.000 nhân công ngành ô tô Canada phụ thuộc vào khả năng chúng tôi có giành được quyền thâm nhập vào các thị trường quan trọng tại châu Á trong khi tiếp tục bảo vệ được vị thế ở thị trường Bắc Mỹ hay không".

Nguồn: AsemconnectVietnam

Từ khóa: Tổng hợp, diễn biến đàm phán, hiệp định, TPP, đến tháng 8/2015

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789623
Go to top