JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Chuyên đềHiệp định đã ký kếtCPTPPCác biện pháp SPS và TPP - Loại bỏ các rào cản cho xuất khẩu nông nghiệp

Các biện pháp SPS và TPP - Loại bỏ các rào cản cho xuất khẩu nông nghiệp

 

TPP2

Các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm nông nghiệp có rất nhiều lý do để ủng hộ các điều khoản về Vệ sinh và Dịch tễ (SPS) trong Hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Chương 7 của Hiệp định TPP đã mở rộng các định SPS hiện hành của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Chương này chứa đựng các nguyên tắc mới nhằm hạn chế khả năng sử dụng các biện pháp bảo vệ như rào cản để hạn chế thương mại nông nghiệp. TPP đi xa hơn các quy định của WTO theo cách chi tiết hơn, minh bạch hơn và khu vực hóa các quy định cũng như các quy tắc SPS mới trong việc hạn chế thương mại bằng công tác thanh kiểm, cấp chứng nhận và kiểm toán.

Một điểm quan trọng trong chương SPS của TPP là cho phép các nhà xuất khẩu tham gia vào các tiến trình quản lý rủi ro liên quan đến nhập khẩu. Điểm này sẽ gây khó khăn hơn cho quốc gia nhập khẩu khi tự ý hạn chế nhập khẩu. Chương SPS cũng có các điều khoản đặc thù cho thương mại thông qua việc tách bạch vấn đề an toàn sinh học, kể cả trường hợp lãnh thổ hoặc bộ phận của lãnh thổ của quốc gia xuất khẩu gặp phải dịch bệnh động vật hoặc thực vật.

Những các nguyên tắc bổ sung này phản ánh một sự nỗ lực mạnh mẽ để giải quyết các biện pháp nhập khẩu SPS mà nhằm mục đích bảo hộ. Chúng kết hợp thực hành mới một cách tốt nhất để tạo điều kiện cho thương mại nông nghiệp trong khi vẫn duy trì chủ quyền của các thành viên TPP trong việc bảo vệ chống lại sâu bệnh, dịch bệnh và nguy cơ truyền bệnh qua thực phẩm.

Các điều khoản về kiểm tra nhập khẩu trong TPP

Kiểm tra nhập khẩu đối với từng container hoặc cả lô hàng có thể là một rào cản lớn đối với thương mại hàng hóa nông nghiệp. Việc kiểm tra có thể dẫn đến sự chậm trễ tốn kém. Hàng hóa có thể phải chịu sự kiểm tra, hoặc thậm chí có thể bị từ chối mà không được chứng minh bằng cá bằng chứng khoa học một cách rõ ràng. Mặc dù Hiệp định SPS của WTO không giải quyết vấn đề này, nhưng TPP thì ngược lại.

TPP quy định, bên nhập khẩu phải có thủ tục kiểm tra dựa trên các tiêu chuẩn của phòng thí nghiệm quốc tế. Họ phải tiến hành kiểm tra nhập khẩu "không gây chậm trễ". Bên nhập khẩu phải lập hồ sơ và chứng minh các yếu tố nguy cơ để xác định loại và tần suất kiểm tra nhập khẩu, và bên nhập khẩu phải cung cấp thông tin về phương pháp phân tích được sử dụng để kiểm soát chất lượng và quy trình lấy mẫu. Nếu bên nhập khẩu quyết định từ chối một lô hàng cụ thể, TPP yêu cầu phải cung cấp kịp thời cho bên xuất khẩu lý do từ chối và tạo một cơ hội để xem xét lại.

Như vậy, bằng cách yêu cầu kiểm tra nhập khẩu phải dựa trên rủi ro thực tế liên quan đến nhập khẩu và bằng cách cung cấp một cơ chế pháp lý mà thông qua đó các bên xuất khẩu có thể xem xét và thử thách kiểm tra nhập khẩu, quy định SPS của TPP sẽ làm bên nhập khẩu khó khăn hơn khi muốn cố tình áp dụng hình thức kiểm tra nhập khẩu như là cách hạn chế nhập khẩu trá hình.

Quy định chứng nhận

Hầu hết thương mại động vật và sản phẩm động vật đều yêu cầu phải có giấy chứng nhận thú y. Hình thức bóp méo thương mại liên quan đến chứng nhận chỉ xảy ra khi các quốc gia ban hành quy định yêu cầu về giấy chứng nhận không dựa trên các nguyên tắc SPS và phi khoa học. TPP đã chỉ ra rõ ràng và quy định chi tiết cho các bên nhập khẩu.

TPP cho phép bên nhập khẩu áp dụng những yêu cầu về giấy phép nhập khẩu khi cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người, động vật hoặc thực vật. Khi áp dụng như vậy, bên nhập khẩu phải xem xét hướng dẫn có liên quan của Ủy ban SPS của WTO và các tiêu chuẩn quốc tế, hướng dẫn và khuyến nghị. Hơn nữa, TPP buộc nhập bên nhập khẩu phải cung cấp cho Bên xuất khẩu với các lý do cho bất kỳ yêu cầu chứng thực nào hoặc thông tin cần thiết trên giấy chứng nhận.

Tóm lại, TPP cung cấp một cơ chế mạnh mẽ mà thông qua đó bên xuất khẩu có thể làm cho bên nhập khẩu phải có trách nhiệm về các điều kiện nhập khẩu không cần thiết trên giấy chứng nhận. Điều này giúp hạn chế bên nhập khẩu lạm dụng các yêu cầu về giấy chứng nhận để hạn chế nhập khẩu.

Quy định khu vực hóa của TPP

Quy định khu vực hóa của TPP sẽ giúp ngăn cản bên nhập khẩu áp đặt lệnh cấm nhập khẩu hoàn toàn các sản phẩm ở nước xuất khẩu đang xảy ra dịch bệnh. Không giống như Hiệp định SPS của WTO, TPP yêu cầu bên nhập khẩu phải thừa nhận nguyên tắc "compartmentalization" có nghĩa là cách ly theo điều kiện khu vực, bao gồm khu vực không có sâu bệnh và khu vực có tỷ lệ sâu bệnh thấp

Compartmentalization là một thủ thuật tương đối mới cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu có trình độ an ninh sinh học cao tiếp tục xuất khẩu các sản phẩm nông nghiêp của mình từ các trang trại và cơ sở giết mổ an toàn sinh học cao, ngay cả khi các doanh nghiệp nằm trong một khu vực hoặc quốc gia được coi là có dịch bệnh. Trong khi các nghĩa vụ thừa nhận việc cách ly đã được tích hợp vào trong các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan (ví dụ, Bộ luật OIE Terrestrial) và có thể được coi là có đề cập đến trong Hiệp định SPS của WTO, nhưng nó đã không được WTO giải quyết một cách rõ ràng. Như vậy, ít nhất là TPP đưa ra được nghĩa vụ của bên nhập khẩu phải thừa nhận "compartmentalization" như một thay thế cho khu vực hóa.

TPP cân bằng các nghĩa vụ "compartmentalization" bằng cách làm rõ nghĩa vụ của bên nhập khẩu trong việc thừa nhận các vùng hoặc khu vực không nhất thiết phải "ngay lập tức." Thật vậy, bên nhập khẩu sẽ có một khoảng "thời gian hợp lý" để đánh giá xem xét vùng hoặc một khu vực bên xuất khẩu đề nghị. Chương SPS của TPP cũng thừa nhận rằng nếu không đủ bằng chứng về sự đủ điệu kiện về một vùng hoặc khu vực mà được yêu cầu cách ly thì có thể ra quyết định không chấp nhận vùng hoặc khu vực đề xuất. Bên nhập khẩu được yêu cầu phải thông báo cho bên xuất khẩu quyết định của mình, và khi quyết định không chấp nhận thì phải cung cấp các lý do mà dẫn đến quyết định này. Hơn nữa, khi có yêu cầu, bên nhập khẩu phải cung cấp thông tin về tính chất và thời gian quá trình khu vực hóa và hợp tác để đánh giá xem quyết định có thể được cấp lại hay không.

Như vậy, TPP đã đưa ra được một quá trình khu vực hóa tinh chỉnh và minh bạch, cung cấp cho bên xuất khẩu bị nhiễm dịch bệnh với các tùy chọn khác nhau để có thể tiếp tục xuất khẩu.

Phân tích khoa học và rủi ro

Nhiều lệnh cấm và hạn chế nhập khẩu dựa vào SPS không phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế áp dụng, và các nước nhập khẩu không thực hiện đánh giá rủi ro dựa trên khoa học, theo yêu cầu của Hiệp định SPS của WTO. Đáng chú ý, quy định đánh giá rủi ro TPP đã buộc bên nhập khẩu phải công bố một cách nhanh chóng khi nào thì tiến hành đánh giá rủi ro, và nếu có, phải công bố các dữ liệu và kết quả phân tích phục vụ cho quá trình đánh giá. Hơn nữa, ngoài việc nhận được quyết định đánh giá rủi ro, các nước xuất khẩu và các bên liên quan (ví dụ, các công ty tư nhân tham gia trong thương mại hàng hóa nông nghiệp) có quyền: (i) bình luận về phân tích rủi ro được thực hiện bởi Bên nhập khẩu và (ii) nhận được một lời giải thích liên quan đến các thông tin có liên quan đến yêu cầu của Bên xuất khẩu. Điều này cho phép các nước xuất khẩu và các công ty đóng một vai trò chủ động hơn trong việc đánh giá rủi ro của bên nhập khẩu. Trên thực tế, điều này giúp gây khó khăn hơn cho Bên nhập khẩu khi muốn áp đặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu độc đoán vượt quá yêu cầu tiêu chuẩn quốc tế mà không phải dựa trên tiến trình đánh giá rủi ro.

Quy định kiểm toán của TPP

Một sự đổi mới quan trọng của chương SPS TPP là tăng cường các thủ tục kiểm toán. Kiểm toán SPS cung cấp một cơ sở khách quan để xác định xem liệu các thủ tục kiểm soát của Bên xuất khẩu có tương đương với Bên nhập khẩu hay không. TPP quy định Bên nhập khẩu có quyền thực hiện kiểm toán việc xuất khẩu các cơ quan có thẩm quyền và hệ thống kiểm soát liên quan hoặc được chỉ định của Bên xuất khẩu, kể cả việc kiểm tra thực tế trực tiếp. Những quy định này được xây dựng dựa trên các yêu cầu của Bộ quy định về Sức khỏe động vật trên cạn của OIE (Terrestrial Code) và Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm (Codex Alimentarius). Bằng cách tạo ra "quyền" để kiểm toán một cách rõ ràng, TPP bắt buộc bên nhập khẩu thực hiện các cuộc kiểm toán như vậy khi bên xuất khẩu xin phép xuất khẩu hàng hóa nông nghiệp. TPP cũng yêu cầu bên nhập khẩu đảm bảo rằng các cuộc kiểm toán của họ dựa trên các chứng cứ khách quan và dữ liệu kiểm chứng được cung cấp bởi các thành viên xuất khẩu. Ngoài ra, các thành viên xuất khẩu cũng được trao quyền bình luận về những phát hiện của kiểm toán. Do đó, trong chương SPS của TPP, bên xuất khẩu và các doanh nghiệp thương mại có quyền phản đối các cuộc kiểm toán không sai trái.

Quy định minh bạch

Các thương nhân nông nghiệp thường không được biết rõ về cơ sở của các biện pháp hạn chế sự di chuyển của hàng hóa dựa trên các quy định SPS. Việc yêu cầu các bên công bố cơ sở của các biện pháp SPS có thể là một bước ngoặt hướng tới giảm bớt các biện pháp bảo hộ. Các quy định minh bạch SPS của TPP chặt chẽ hơn so với Hiệp định SPS của WTO trong việc yêu cầu bên nhập khẩu cung cấp các cơ sở và các dữ liệu của các biện pháp nhập khẩu và việc trao cho các bên liên quan và mọi người có cơ hội có ý kiến.

Ví dụ, theo TPP, Bên nhập khẩu phải chờ ít nhất 60 ngày sau khi phát hành thông báo một biện pháp đề xuất để nhận ý kiến phản hồi ​​từ những người quan tâm hoặc các bên liên quan. Điều này có nghĩa rằng không chỉ các chính phủ, mà các doanh nghiệp và các tổ chức, đều có quyền có ý kiến về các biện pháp đề xuất. TPP cũng yêu cầu các bên công bố các biện pháp SPS đề xuất bằng phương tiện điện tử, bao gồm cả cơ sở pháp lý của biện pháp và một bản tóm tắt các ý kiến ​​bằng văn bản nhận được. Hơn nữa, sau khi một biện pháp nhập khẩu cuối cùng đã được thông qua, Bên nhập khẩu phải cung cấp theo yêu cầu của bên xuất khẩu "tài liệu và bằng chứng khoa học khách quan hợp lý liên quan đến các biện pháp, chẳng hạn như đánh giá rủi ro, các nghiên cứu có liên quan và ý kiến ​​chuyên gia". Đây là sự nâng cao đầy ý nghĩa từ quy định SPS của WTO mà sẽ giúp gây khó khăn hơn cho các bên khi muốn áp đặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu SPS phi khoa học. Kết quả cuối cùng sẽ có ít hơn các biện pháp bảo hộ dựa trên SPS và tăng cường tự do thương mại đối với các sản phẩm nông nghiệp.

Theo http://www.sidley.com - PT

Từ khóa: biện pháp SPS, TPP, loại bỏ  rào cản, xuất khẩu, nông nghiệp

 

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789783
Go to top