
Các nước kém phát triển sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ AEC
Khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) trở thành hiện thực vào cuối năm nay, dòng chảy tự do của hàng hóa, lao động và các quỹ trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (SEAN) chắc chắn sẽ mang lại lợi cho tất cả các quốc gia trong khối. Tuy nhiên, lợi ích mang đến cho mỗi thành viên có thể nhiều ít khác nhau.
Sở dĩ như vậy một phần là do các thành viên ASEAN đang nằm ở những mức độ phát triển rất khác nhau. Một số nước có vẻ như đang mất đi động lực kinh tế trong khi những nước khác khác đang nhanh chóng đạt được tốc độ tăng trưởng kỳ vọng.
Mạng lưới sản xuất và tiếp thị phân phối được mở rộng với mức độ tập trung sâu và các mô hình kết nối nhiều hơn so với trước kia.
Bên cạnh đó, kinh tế nội khối sẽ có bước tăng trưởng tổng thể mạnh mẽ về khối lượng giao dịch thương mại. Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất sẽ diễn ra giữa các nước ASEAN mới nổi với các quốc gia phát triển hơn trong khối.
Theo khảo sát Ban giám đốc của các doanh nghiệp về của Deloitte, cứ 5 doanh nghiệp thì mới chỉ có 1 doanh nghiệp có kế hoạch hoặc những thay đổi để đo lường tác động của AEC.
Trong khi đó, 48% cho biết nhận thức của họ về AEC còn hạn chế; 62% cảm thấy những tác động của AEC còn hạn chế hoặc chưa hiệu quả; 51% cảm thấy những tác động tiềm năng là đáng kể. Ngoài ra, 96% doanh nghiệp đã nhận thức được rằng AEC sẽ là cơ hội cho họ; bao gồm thị trường mới, thị trường lớn hơn và chi phí thấp hơn. Song cơ hội này mở đến đâu vẫn là điều băn khoăn khi có tới 63% doanh nghiệp nhận định mối đe dọa lớn nhất với họ là gia tăng cạnh tranh.
Cũng theo kết quả khảo sát của Deloitte, top 3 lĩnh vực có nhiều cơ hội nhất khi AEC được hình thành bao gồm: đầu tư, chuỗi cung ứng, bán hàng và tiếp thị.
Lấy ví dụ như ở Thái Lan, tăng trưởng kinh tế của nước này đang có xu hướng chậm lại đáng kể do bất ổn chính trị kéo dài và chi phí sản xuất tăng cao. Nền kinh tế của Indonesia cũng đang trong tình trạng sụt giảm sản lượng than và mất giá của các mặt hàng năng lượng, sản phẩm xuất khẩu chính của quốc gia này.
Theo kết quả của một nghiên cứu về các nền kinh tế của các thành viên ASEAN bao gồm Brunei đã cho thấy rằng các quốc gia kém phát triển của khối đang nhanh chóng nổi lên như những nguồn sáng về tăng trưởng.
Myanmar, Việt Nam và Philippines có khả năng sẽ trở thành nguồn tăng trưởng cho ASEAN trong một thời gia dài, phần lớn nhờ vào số lượng ngày càng tăng của các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động thiết lập các hoạt động kinh doanh ở các đất nước này.
Sự chênh lệch về tốc độ tăng trưởng cao nhất và thấp nhất của các thành viên ASEAN đã giảm từ 9,3 điểm phần trăm năm 2003 xuống còn 5,4 điểm phần trăm 10 năm sau đó.
Điều này là do nhiều yếu tố, chẳng hạn như là dàn trải tốt hơn của vốn đầu tư nước ngoài vào các nước ASEAN, sự liên kết quốc tế tốt hơn về nguồn nhân lực cho sản xuất trong khu vực và quan hệ cùng ngành mạnh mẽ hơn giữa các thành viên của khối.
Ba yếu tố tác động lớn đến ASEAN và AEC
Trong tương lai sẽ có ba yếu tố có thể có tác động lớn đến ASEAN và AEC.
Yếu tố đầu tiên là nền kinh tế Trung Quốc đang có xu hướng suy thoái có ảnh hưởng rất lớn và tiêu cực đến sản lượng xuất khẩu của các quốc gia ASEAN. Indonesia, xuất khẩu một lượng lớn than, khí đốt tự nhiên hóa lỏng và các nguồn lực khác cho khách hàng Trung Quốc, đang là quốc gia đặc biệt dễ tổn thương.
Hơn thế nữa, các nhà sản xuất nước ngoài và Trung Quốc đang có xu hướng chuyển các cơ sở sản xuất của mình sang các nước châu Á khác để tránh chi phí lao động đang tăng cao của Trung Quốc và đồng nhân dân tệ đang ngày trở nên mạnh hơn. Việt Nam và Philippines là những điểm đến phổ biến nhất. Các nhà sản xuất hàng may mặc đang chuyển các nhà máy của họ ra khỏi Trung Quốc cũng vì lý do như vậy, và điểm đến chủ yếu là Myanmar.
Điều này là do chi phí lao động ở Việt Nam, Philippines và Myanmar vẫn còn thấp hơn so với các nước thành viên ASEAN khác. Hơn nữa, ba quốc gia đều có dân số đủ lớn để đảm bảo cung cấp đủ số lượng lao động cần thiết.
Việt Nam đang cố gắng tận hưởng những lợi ích này bằng cách liên tục chào đón các cơ sở sản xuất. Gần đây, Việt Nam đã công bố thặng dư thương mại, phần lớn trong số đó có được từ việc nhà máy điện thoại di động Samsung Electronics Hàn Quốc, công ty chuyên sản xuất các thiết bị cầm tay và điện thoại thông minh, đã di dời cơ sở sản xuất của mình từ Trung Quốc sang từ 5 năm trước.
Yếu tố thứ hai chính là chiến lược "Thái Lan cộng một". Do chi phí tiền công cao và tình trạng thiếu lao động tăng ở Thái Lan, nên các doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản đang tăng cường xây dựng nhà máy chi nhánh tại các khu công nghiệp ngay sát bên kia biên giới với Thái Lan, chẳng hạn như khu công nghiệp Poipet và Koh Kong của Campuchia và khu công nghiệp Savannakhet của Lào, và chuyển các công đoạn sản xuất thâm dụng lao động sang đó.
Nếu xu hướng này tiếp diễn, thì Thái Lan sẽ rất khó khăn để khôi phục động lực cho kinh tế của mình, nhưng Campuchia và Myanmar sẽ được hưởng lợi.
Sự chuyển đổi sản xuất từ từ này cũng đã đủ làm cho Thái Lan lo ngại, nhưng còn có những thứ có thể sẽ sớm trở nên tồi tệ hơn. Đất nước Thái Lan đã và đang sa lầy trong tình trạng hỗn loạn chính trị kể từ tháng 5 năm 2014, từ thời điểm mà cựu Thủ tướng Yingluck Shinawatra bị quân đội lật đổ và chính quyền quân sự luôn muốn củng cố quyền lực. Sẽ không ngạc nhiên nếu các nhà sản xuất bắt đầu làn sóng rời bỏ Thái Lan để đến những vùng đất tốt hơn, ổn định hơn trong khu vực ASEAN.
Yếu tố thứ ba là giá dầu thô, do sự tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế ASEAN đều phải phụ thuộc vào giá năng lượng.
Giá dầu rẻ hơn đem lại cay đắng cho Indonesia, đất nước vốn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu năng lượng, nhưng nó sẽ mang đến hạnh phúc cho các nước khác. Nền kinh tế ASEAN đã nhìn thấy một sự tăng đột biến về tỷ lệ sở hữu ô tô và mức sống được cải thiện, việc giá dầu thô giảm mạnh kể từ mùa thu năm ngoái đã có nghĩa là giá xăng dầu thành phẩm thấp hơn làm chi phí tiêu dùng dễ thở hơn. Nhưng nếu ngược lại, một cuộc đổi ngôi về giá dầu có thể ảnh hưởng to lớn về sự phát triển của các quốc gia này.
Chính sách mở cửa bầu trời ASEAN của AEC: cơ hội và thách thức đối với ngành hàng không Indonesia
Vào cuối năm nay, cùng với việc thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), chính sách mở cửa bầu trời ASEAN (còn được gọi là thị trường hàng không ASEAN duy nhất) cũng có hiệu lực hoàn toàn.
Chính sách mở cửa bầu trời ASEAN, một trong các chính sách quan trọng của AEC, chính là hiệp định đa phương của tất cả 10 nước thành viên ASEAN kết nối bầu trời của mình thành một thị trường hàng không duy nhất (dựa trên nguyên tắc tự do hóa các quy tắc và quy định ở mức độ lớn) nhằm nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực.
AEC sẽ biến khu vực ASEAN thành một khu vực tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động lành nghề và tự do hơn về dòng chảy vốn. Hiện thực hóa chính sách mở cửa bầu trời ASEAN là một trong những trụ cột quan trọng trong lộ trình hình thành AEC. Thông qua việc cùng đồng ý mở bầu trời của mình, 10 quốc gia thành viên ASEAN đã công nhận tầm quan trọng của tự do hóa vận tải hàng không trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế hơn nữa. Động thái này được kỳ vọng sẽ tạo thành một chất xúc tác quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của khu vực (không chỉ thúc đẩy tăng trưởng của ngành du lịch mà còn đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực ASEAN nói chung khi kết nối giao thông vận tải đóng vai trò rất quan trọng đối với sự lưu chuyển của thương mại và dịch vụ).
Tự do hóa thị trường hàng không buộc các hãng hàng không nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần tăng mạnh số lượng các chuyến bay trong khu vực, tăng cường kết nối giữa các thị trường hàng không, khuyến khích các hãng hàng không nâng cao chất lượng dịch vụ đồng thời hành khách có cơ hội được giảm giá vé.
Tuy nhiên, gia tăng cạnh tranh cũng là một trong những mối quan ngại chính khi hầu hết các hãng hàng không Indonesia đang lo sợ chưa sẵn sàng đối mặt với cạnh tranh gay gắt sau khi thực hiện đầy đủ chính sách mở cửa bầu trời ASEAN. Indonesia là thị trường hàng không lớn nhất khu vực Đông Nam Á nên các hãng hàng không nước ngoài, đặc biệt là các hãng từ Malaysia và Singapore, đang rất háo hức thâm nhập, khai thác thị trường nhiều tiềm năng này bằng cách mở các đường bay nội địa Indonesia. Các nhà phân tích đánh giá một loạt các vấn đề như các chính sách của chính phủ về thuế, sân bay thiếu hiệu quả (cơ sở hạ tầng yếu kém), thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp (phi công, kỹ thuật viên máy bay và kiểm soát không lưu) và chi phí nhiên liệu hàng không cao làm các hãng hàng không Indonesia trở nên kém cạnh tranh so với các đối tác Đông Nam Á khác.
Bộ Giao thông vận tải Indonesia xác nhận các sân bay quốc tế tại 5 thành phố của Indonesia bao gồm Jakarta, Surabaya, Denpasar, Medan và Makassar - sẵn sàng mở cửa hoàn toàn bầu trời vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, có một số lượng lớn của các sân bay cũng là điều bất lợi. Ví dụ, Singapore Airlines sẽ có thể chuyên chở hành khách từ 5 sân bay của Indonesia trong khi các hãng hàng không Indonesia chỉ có thể bay đến một sân bay ở Singapore.
Các thảm họa tai nạn máy bay gần đây sẽ không ảnh hưởng đến các chính sách mở cửa bầu trời ASEAN. Trong tháng 3/2014, xảy ra một trong các trường hợp bí ẩn nhất trong lịch sử của ngành hàng không khi chuyến bay MH370 của Malaysia Airlines đã mất tích trên đường bay từ Kuala Lumpur đến Bắc Kinh (đến nay vẫn chưa tìm thấy). Tháng 7/2014, một máy bay Malaysia Airlines bị bắn rơi khi đang bay trên bầu trời Ukraine. Tháng 12/2014, máy bay QZ8501 của hãng AirAsia bị rơi ở vùng biển Java trên đường bay từ Surabaya đến Singapore. Cuối cùng, vào cuối tháng 6/2015, một chiếc máy bay quân sự của Indonesia bị rơi trong một khu vực dân cư ở Medan (Sumatra) ngay sau khi cất cánh.
Mặc dù Malaysia Airlines và AirAsia của Indonesia được đánh giá có độ an toàn và độ tin cậy cao, nhiều hãng hàng không nhỏ hơn ở Đông Nam Á đang gây ra không ít lo ngại, đặc biệt là ở Indonesia, thị trường hàng không lớn nhất ASEAN. Indonesia có tổng cộng 65 hãng hàng không. Tuy nhiên, gần như hầu hết các hãng này đều bị cấm bay vào Liên minh châu Âu và Mỹ (vì vấn đề an toàn), ngoại trừ một số hãng hàng không là Garuda Indonesia, AirAsia Indonesia, Airfast Indonesia và Ekspres Transportasi Antarbenua (Premiair). Trong thập kỷ vừa qua, các tiêu chuẩn an toàn hàng không trong khu vực Đông Nam Á đã được nâng cao nhưng với tốc độ tương đối chậm. Do đặc điểm địa lý của khu vực, tầng lớp trung nhanh chóng được mở rộng, khu vực châu Á-Thái Bình Dương là một trong những khu vực phát triển nhanh nhất trên thế giới về du lịch hàng không, đặc biệt từ khi nhiều hãng hàng không giá rẻ tham gia thị trường.
Thư ký Cộng đồng Kinh tế ASEAN: 'AEC không chỉ là tự do hóa thương mại'
Năm nay được coi là thời điểm khởi đầu của một bước nhảy vọt lớn của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đang được bàn luận sôi nổi sẽ được chính thức thành lập cuối năm nay.
Để cố gắng đạt được các mục tiêu của AEC vào năm 2025, Bộ Ngoại giao Indonesia sẽ làm việc chặt chẽ với các tổ chức liên quan của ASEAN tại Indonesia.
Giám đốc Cơ quan hợp tác kinh tế ASEAN, được coi như Thư ký Cộng đồng Kinh tế ASEAN, bà Ina Haniningtyas Krishnamurti cho biết văn phòng Ban thư ký nằm trong văn phòng của Bộ Ngoại giao Indonesia ở thủ đô Jakarta.
"Là một trong những nước trụ cột của AEC, Bộ Ngoại giao Indonesia cùng với Bộ Kinh tế và Bộ Thương mại sẽ chịu trách nhiệm điều phối chung", bà Ina phát biểu trong cuộc họp báo được tổ chức ngày 26/7/2015 tại trụ sở Bộ Ngoại giao Indonesia.
Hiện nay, nhiều người đang có quan niệm cho rằng vai trò của AEC chỉ đơn thuần là công cụ để tự do hóa thương mại trong khu vực.
Bà Ina khẳng định quan niệm này là sai lầm và cho biết AEC còn có vai trò nâng cao nhận thức của các quốc gia ASEAN về sức cạnh tranh. Từ đó, mỗi nước sẽ có được sự chuẩn bị cần thiết về điều kiện kinh tế và tinh thần để đối mặt với bất kỳ vấn đề xuyên biên giới nào trong tương lai, đặc biệt là trong một môi trường cạnh tranh ngày càng mạnh.
"AEC đang phải đối mặt với các vấn đề lớn xuyên biên giới nên Bộ Ngoại giao Indonesia phải đóng vai trò là đầu mối giải quyết những vấn đề này" bà Ina giải thích thêm.
Bên cạnh đó, có một quan điểm khác lại cho rằng AEC đơn thuần là một khái niệm, tác động của AEC chỉ cảm thấy trong thời gian rất ngắn hoặc chỉ trong năm 2015.
Một lần nữa, bà Ina lại khẳng định quan điểm này chưa đúng và giải thích năm 2015 là thời điểm khởi đầu. Những tiến bộ, thành tựu và kết quả thực tế chỉ có thể thấy được sau năm 2015. Đồng thời, phát triển kinh tế cân bằng và công bằng - hai mục tiêu của AEC – cũng chỉ có thể đạt được vào những năm sau năm 2015.
Năm 2015 được coi là giai đoạn sơ bộ trong quá trình phát triển tổng thể và tăng cường hợp tác của các quốc gia ASEAN. Quá trình phát triển này sẽ được thực hiện dần dần và được kỳ vọng sẽ đem lại kết quả rõ ràng vào năm 2025.
Các doanh nghiệp siêu nhỏ của Philippines khó hưởng lợi từ AEC
Khi khu vực ASEAN trở thành một nền kinh tế chung duy nhất vào đầu năm 2016, chỉ có 1% trong số khoảng 800.000 doanh nghiệp của Philippines nắm bắt được các cơ hội mà Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) mang lại. 99% các doanh nghiệp còn lại sẽ không thể nắm bắt được lợi ích từ AEC. Nguyên nhân chủ yếu vì đây là các doanh nghiệp rất nhỏ và có khả năng cạnh tranh kém. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp lớn, khi AEC đi vào thực thi sẽ là thời điểm để gặt hái nhiều lợi ích.
ASEAN là một thị trường có 600 triệu người tiêu dùng tiềm năng.Nếu khu vực này là một quốc gia, thì quốc gia này sẽ là quốc gia giàu có thứ 7 trên thế giới, với GDP đạt 2,4 nghìn tỷ USD. Đối với chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh khổng lồ Jollibee của Philippine, sự hội nhập trong khu vực sẽ giúp tập đoàn này có được một chuỗi cung ứng nguyên liệu rẻ hơn cho gần 3.000 nhà hàng ở Philippines, Việt Nam, Brunei, Campuchia, Singapore và Trung Quốc. Jollibeelấy nguồn cà phê từ Việt Nam, và một số gia vị từ Singapore, Malaysia và Indonesia.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ như doanh nghiệp điều hành kiosk Potato Corner và doanh nghiệp chuyên sản xuất kem Fog City Creamery, AEC hứa hẹn không gian bán lẻ rẻ hơn, một môi trường kinh doanh được định hướng tốt hơn và cơ hội xâm nhập các thị trường vốn trước đây khó tiếp cận như Singapore.
Nhưng đối với những người như ông Ramon Renia, một tiểu thương bán gia cầm làm sẵn ở quận Blumentritt thuộc Manila, AEC không có quá nhiều tác động. Theo ông Renia, AEC có thể ảnh hưởng đến các trang trại lớn, các chuỗi nhà hàng hoặc các cửa hàng tạp hóa lớn, nhưng đối với những người dân ở tầng lớp trung lưu như ông thì không. "Tôi không cho rằng sẽ có người từ Singapore đến cạnh tranh với tôi ở phân khúc nhỏ bé này", ông Renia nói.
Các công ty như công ty ông Renia được gọi là "doanh nghiệp siêu nhỏ" vì các doanh nghiệp này chỉ sử dụng từ 10 lao động trở xuống. Các doanh nghiệp siêu nhỏ này chiếm 9/10 số doanh nghiệp đang kinh doanh tại Philippines – tứcchiếm 697.077 trêntổng 761.409 doanh nghiệp của Phillipines. Số lượng của các doanh nghiệp siêu nhỏ lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp nhỏ (58.292), các công ty vừa (3067) và tập đoàn lớn (2,973).
Tỷ lệ này tạo ra tình trạng "rỗng" ở chính giữa - một trong những vấn đề mà Philippines đang cố gắng giải quyết trước khi AEC đi vào thực thi và các đối thủ cạnh tranh có nguồn vốn tốt hơn, linh hoạt hơnđến từ nước ngoài xuất hiện. Tuy nhiên, cho đến nay, những nỗ lực trên của chính phủ Philippines chưa đạt được kết quả mong muốn.
Ông Renia cho biết ông chưa bao giờ cảm thấy bắt buộc phải mở rộng quy mô của công ty. Ông cũng sẽ không thay đổi ý định cho dù chính phủ có đến tận nhà thuyết phục ông. Theo ông, mở rộng quy mô đồng nghĩa với thêm quá nhiều công việc phải làm. Suy nghĩ của ông Renia chính là suy nghĩ điển hình của các doanh nghiệp siêu nhỏ tại Philippines.
Hầu hết chủ các doanh nghiệp siêu nhỏ là những người thành đạt, đã xây dựng doanh nghiệp của mình từ tiền riêng. Họ hiếm khi xin sự giúp đỡ từ ngân hàng và rất hoài nghi đối với viện trợ từ chính phủ.Ngay cả các công ty tương đối lớn như nhà bán lẻ quần áo Gingersnaps – doanh nghiệp đãhoạt động hơn 25 năm và có cửa hàng ở Indonesia, Malaysia và Singapore, cũng thà dựa vào dòng tiền của chính mình hơn là vay vốn từ ngân hàng.
Chính phủ Philippines khuyến khích SMEs khai thác nguồn vốn rẻ để mở rộng quy mô
Chính phủ Philippines đã cố khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ khai thác nguồn vốn rẻ để họ có thể mở rộng quy mô. Chính phủ đã cấp 288 tỷ peso (tương đương 8,6 tỷ USD) chochương trình Magna Carta năm 1991 – chương trình cung cấp các khoản vay dành cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ (MSMEs). Hai chương trình cho vay khác từ năm 2004 đến 2010 của chính phủ cũng có giá trị 367 tỷ peso.
Tuy nhiên, số tiền trênvẫn không đáp ứng đủ nhu cầu. Liên đoàn xuất khẩu Philippine ước tính rằng MSMEs vẫn cần nguồn tài chính hàng năm lên tới 67 tỷ peso, còn Bộ thương mại Philippines lại cho rằng cần 180 tỷ peso mới đáp ứng đủ số vốn MSMEs cần. Hơn nữa, mọi hoạt động tại Philippines thường tốn rất nhiều thời gian, do đó làm tăng chi phí kinh doanh.
Chẳng hạn như, tại Philippines thường phải mất 60 ngày để có thể đăng ký thành lập một công ty. Trong khu vực ASEAN, chỉ có mỗi Indonesia là tốn nhiều thời gian hơn Philippines (62 ngày). Các quốc gia còn lại đều nhanh hơn Philippines. Ngay cả Việt Nam cũng chỉ tốn 52 ngày, còn tại Singapore, người ta chỉ mất 3 ngày để đăng ký và bắt đầu hoạt động một doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Philippines vẫn còn tồn tại rất nhiều doanh nghiệp độc quyền thuộc sở hữu gia đình trong các lĩnh vực trọng yếu như ngân hàng, viễn thông, và khai thác mỏ, mặc dù Philippines đã có nhiều năm tự do hóa, chuyển dịch cơ cấu và cải cách. Những công ty này chắc chắn sẽ giành được hầu hết lợi ích có từ AEC, và các doanh nghiệp khác chỉ được hưởng một số lợi ích rấtnhỏ.
Theo ông Chris Leahy, người đồng sáng lập của công ty tư vấn đầu tư Blackpeak nhận định, các công ty khác sẽ rất khó phát triển khi có sự tồn tại của những công ty độc quyền gia đình lớn này. Ông Leahy đã sử dụng trường hợp chuỗi nhà hàng Mang Inasal làm ví dụ minh họa. Chủ sở hữu của Mang Inasal, ông Edgar Sia, đã phát triển chuỗi nhà hàng của mình từ một nhà hàng duy nhất chỉ trong vòng 7 năm. Nhưng trong năm 2010, ông Sia đã bán Mang Inasal cho Jollibee với giá 3 tỷ peso. Theo ông Leahy, nguyên nhân là do Mang Inasal không thể tiếp tục mở rộng quy mô mà không đối đầu với tập đoàn khổng lồ Jollibee.
Ông Leahy cho biết, Philippines hiện đã có những tập đoàn địa phương rất mạnh, có thể xâm nhập được thị trường nước ngoài và có thể thu được nhiều lợi ích từ AEC. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho đất nước cùng công ăn việc làm cho người dân, nhưng sẽ không giải quyết được các vấn đề về doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Indonesia dội gáo nước lạnh lên Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Sự thiếu nhiệt tình của Indonesia đối với quá trình hội nhập kinh tế ASEAN đang dội gáo nước lạnh vào những sáng kiến đầy tham vọng về tạo dựng một thị trường chung và căn cứ sản xuất duy nhất trong khu vực vào cuối năm nay.
Trong khi tất cả các nước thành viên khác của ASEAN, bao gồm cả Malaysia, đang cố gắng loại bỏ những khung pháp lý và chính sách không còn phù hợp để đạt được các mục tiêu của Bản tầm nhìn Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) thì nhiều người đang nghi ngờ sự thành công của AEC trước sự lạnh nhạt của Indonesia.
"ASEAN sẽ không là gì nếu không có Indonesia", Chủ tịch tập đoàn CIMB đồng thời là Chủ tịch Câu lạc bộ kinh doanh ASEAN (ABC) Datuk Seri Nazir Razak khẳng định.
Ông Nazir là một người ủng hộ trung thành của AEC.
Với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 870 tỷ USD, Indonesia là nền kinh tế lớn nhất trong khu vực ASEAN. Quy mô lớn của nền kinh tế Indonesia khiến các cam kết của nước này đối với AEC trở nên rất quan trọng, quyết định sự thành công của AEC.
Indonesia cũng là thị trường có quy mô lớn nhất trong khu vực với quy mô dân số khổng lồ, khoảng 250 triệu người.
"Tôi hy vọng Indonesia sẽ đi đầu trong việc thúc đẩy các sáng kiến AEC," ông Nazir phát biểu tại Diễn đàn "Con đường hội nhập ASEAN" được tổ chức gần đây ở Singapore.
Diễn đàn này được Viện nghiên cứu ASEAN CIMB (CARI) và ABC – một câu lạc bộ quy tụ các giám đốc điều hành của các doanh nghiệp kinh doanh quan trọng nhất của ASEAN – tổ chức thường niên nhằm tập hợp các nhà lãnh đạo của cả hai khu vực công và tư nhân trong khu vực ASEAN và thúc đẩy các sáng kiến AEC. Tuy vậy, sự vắng mặt của các đại biểu Indonesia tại diễn đàn gần đây đã gây sự chú ý, làm nảy sinh các nghi ngờ về cam kết của nước này đối với tầm nhìn AEC.
Ông Nazir cũng bày tỏ sự lo lắng của mình đối với lập trường của Tổng thống Indonesia Joko Widodo hay thường gọi là Tổng thống Jokowi, đối với AEC. "Cam kết của Indonesia hướng tới AEC khá mơ hồ. Chúng tôi đang chờ đợi Tổng thống Jokowi chính thức tuyên bố lập trường của ông về AEC".
Không giống như những lãnh đạo tiền nhiệm, những người luôn bày tỏ sự ủng hộ rõ ràng đối với hội nhập kinh tế khu vực, Tổng thống Jokowi, nhậm chức từ tháng 10 năm ngoái, vẫn chưa quan tâm nhiều đến AEC.
Trên thực tế, AEC sẽ thúc đẩy sự phát triển chung của 10 nước thành viên ASEAN và tăng cường sự thịnh vượng của các dân tộc. Các mục tiêu của AEC hướng tới xây dựng một thị trường chung và căn cứ sản xuất duy nhất trong ASEAN, tự do hóa hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề cao và tự do hơn về dòng chảy vốn. Các nước ASEAN đang có kế hoạch hình thành AEC vào cuối năm 2015.
Tuy nhiên, với tỷ lệ thực hiện các sáng kiến AEC chỉ đạt 90,5% như hiện nay, các nhà hoạch định chính sách trong khu vực đã thừa nhận hội nhập toàn diện nền kinh tế ASEAN sẽ khó có thể đạt được vào cuối năm nay. Các nước trong khu vực đang bày tỏ quyết tâm đạt được một tỷ lệ thực hiện 95% trước đầu năm tới.
Theo Bộ trưởng Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp Malaysia Datuk Seri Mustapa Mohamed, các nhà hoạch định chính sách ASEAN phải thể hiện ý chí chính trị cao hơn và giải quyết nhiều vấn đề còn tồn tại như khoảng cách phát triển giữa 10 nước thành viên nhằm đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực.
"Mặc dù chúng tôi đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc hội nhập các nền kinh tế thành viên ASEAN, chúng tôi vẫn còn rất nhiều việc phải làm", Bộ trưởng Mustapa cho biết trong bài phát biểu tại diễn đàn ABC gần đây.
Chủ tịch diễn đàn ABC 2015, ông U Thura Ko Ko, quốc tịch Myanmar, khẳng định nếu tất cả các nền kinh tế ASEAN có thể phối hợp hành động để thực hiện hội nhập kinh tế khu vực đầy đủ thì nhiều cơ hội to lớn sẽ đến.
"Nhìn chung, ASEAN đang ngày càng được công nhận là một cường quốc kinh tế và kinh doanh toàn cầu lớn nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để tận dụng hết những lợi ích của hội nhập kinh tế", ông Ko cho biết.
Với tổng dân số khoảng 625 triệu, ASEAN chiếm gần 9% dân số toàn cầu. Tổng GDP của ASEAN đạt 2.400 tỷ USD, lớn thứ bảy trên thế giới.
Bộ trưởng Ngoại giao Singapore: AEC sẽ không giống như EU
Trong một phát biểu đầu tuần này với giới truyền thông Đảo quốc Sư tử, Bộ trưởng Ngoại giao Singapore K Shanmugam nhấn mạnh rằng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), dự kiến được thành lập vào cuối năm nay, sẽ không giống như Liên minh châu Âu (EU).
Bộ trưởng K Shanmugam cho rằng mặc dù các nước thành viên ASEAN có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, dân số, văn hóa và đời sống, là những thách thức khi hội nhập sâu hơn, nhưng AEC được thành lập sẽ là một sự kích thích kinh tế quan trọng và sự năng động của các nước thành viên có thể bổ sung cho nhau.
Hiện ASEAN là một nhóm kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới, với GDP lên tới 2.400 tỷ USD; kinh tế khu vực tăng trưởng 5% mỗi năm và dự kiến sẽ đạt 4.000 tỷ USD vào năm 2020.
Ông K Shanmugam cho rằng sẽ không có tình trạng dịch chuyển lao động một cách tự do khi AEC được hình thành do sự thiếu tương đồng về các điều kiện sống cũng như hệ thống giá trị cốt lõi.
Đối với EU, ông K Shanmugam đánh giá đây là đối tác thương mại lớn thứ hai của ASEAN, là thị trường trọng điểm của khu vực và có tiềm năng để hình thành một quan hệ đối tác chiến lược nhằm đối phó với những thách thức trong bối cảnh hiện nay.
Bộ trưởng K Shanmugam cho rằng bên cạnh kinh tế, hai bên có thể tăng cường hợp tác, phối hợp về các lĩnh vực liên quan đến khuôn khổ pháp luật nhằm đối phó với các lực lượng khủng bố cực đoan.
Theo AsemconnectVietnam
Từ khóa: Tổng hợp, tình hình, Cộng đồng kinh tế ASEAN






















