
Trong tháng 5/2015, tin tức về Cộng đồng kinh tế ASEAN sắp được thành lập cuối năm nay có nhiều tín hiệu tích cực.
So sánh AEC và WTO
Điểm chung giữa cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là về tự do hóa thương mại. Tuy nhiên AEC có mức độ tự do hóa sâu và rộng hơn nhiều so với WTO.
Về cách thức thực hiện tự do hoá thương mại, giữa WTO và AEC đều có những điểm khá giống nhau.
Ba điểm chung
Thứ nhất, các quy định về tự do hoá thương mại đều được ghi nhận trong các văn bản chung, thống nhất, áp dụng cho tất cả các thành viên và các thành viên có nghĩa vụ tuân thủ các quy định chung nhất này. Đối với WTO, đó là các văn bản: - Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT); Hiệp định về nông nghiệp; Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật; Hiệp định về hàng dệt may; Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, Hiệp định về các biện pháp tự vệ...
Đối với AEC, đó là Hiệp định ATIGA - là sự kế thừa và hợp nhất các quy định trước định của các văn bản trước đó về Khu vực thương mại tự do ASEAN (bao gồm Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế thành lập AFTA, Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan CEPT và 13 Nghị định thư sửa đổi và bổ sung hai Hiệp định trên) và Hiệp định khung về hội nhập các ngành ưu tiên (APIS). Đây đều là những hiệp định khung, quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các thành viên trong việc cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan cũng như lộ trình để thực hiện. Ví dụ: biện pháp bảo hộ thương mại cổ điển nhất là thuế quan thì đã được WTO yêu cầu phải cắt giảm. Các thành viên WTO đều phải cam kết không tăng thuế vượt mức đã cam kết đối với phần lớn các mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu. Cam kết này được gọi là cam kết "ràng buộc thuế quan". Điều 2 GATT 1994 quy định các mức cố định tối đa của thuế nhập khẩu được áp dụng đối với các sản phẩm nhập khẩu từ các thành viên WTO khác. Về biện pháp phi thuế quan, Điều 11 của GATT 1994 - là trụ cột quan trọng thứ tư trong GATT 1994 quy định các hạn chế thương mại không được áp đặt dưới hình thức hạn ngạch hoặc các hạn chế số lượng đối với hàng nhập khẩu, trừ khi đáp ứng một trong những ngoại lệ cụ thể được quy định ở các Điều XI, XX hoặc XXI của GATT 1994 . Điều này có nghĩa là, trên thực tế các thành viên phải loại bỏ các hạn chế, các hạn ngạch xuất nhập khẩu, các yêu cầu cấp phép có hệ quả hạn chế số lượng mà các công ty có thể nhập khẩu hoặc xuất khẩu và bất kỳ sự kiểm soát nào khác có tác động đến việc hạn chế hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Còn đối với AEC, các nước ASEAN trong năm 1992, đã ký Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung gọi tắt là CEPT với thoả thuận chung giữa các nước thành viên ASEAN về giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn từ 0-5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi quan thuế trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn thành vào 1/1/2003. Đây là thời hạn đã có sự đẩy nhanh hơn so với thời hạn ký Hiệp định ban đầu: từ 15 năm xuống còn 10 năm. Đối với rào cản phi thuế quan, lộ trình hội nhập của ASEAN quy định rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam.
Thứ hai, dựa trên các quy định chung như trên, các quốc gia thành viên tự xây dựng và thực hiện theo lộ trình, cam kết riêng của quốc gia mình. WTO quy định các nước thành viên phải thông qua đàm phán, đưa ra các cam kết với những lộ trình thực hiện cụ thể. Việc các nước thành viên thoả thuận mở cửa thị trường hàng hoá hoặc dịch vụ đồng nghĩa với việc ràng buộc các cam kết về việc thâm nhập thị trường nội địa. Trong lĩnh vực hàng hoá, sự ràng buộc đó thể hiện ở việc ấn định tổng mức thuế suất thuế quan cam kết trần. Phương pháp đánh thuế quan của tổ chức WTO cũng hướng tới con số thuế quan xuống đến mức thấp nhất. WTO cũng phân chia các loại hàng hóa thành những mặt hàng khác để đánh thuế theo hàng hóa và hướng tới mục tiêu khuyến khích cho các nước đang phát triển tham gia nhập tổ chức này và nhận được những ưu đãi so với những nước có nền kinh tế phát triển. Việc đánh thuế quan hiện nay là do pháp luật của các nước điều chỉnh về thuế trong quá trình xuất - nhập khẩu sao cho phù hợp với nội dung về thuế mà WTO đưa ra. Các thành viên tham gia WTO cần phải tuân theo các nguyên tắc như đối xử quốc gia, tự do thương mại.
Đối với AEC, trong số danh mục hàng hóa cắt giảm thuế mà Hiệp định CEPT đưa ra, các thành viên có quyền tự quyết định lựa chọn danh mục hàng hóa cắt giảm thuế của quốc gia mình và đưa ra lộ trình phù hợp với quy định chung. Việc lựa chọn danh mục hàng hóa của quốc gia phải được Hội đồng AFTA chấp nhận.
Thứ ba, tuân thủ các cam kết chung đạt được qua các vòng đàm phán. Trong khuôn khổ hợp tác, các quốc gia thành viên tiến hành các vòng đàm phán nhằm đưa ra các lộ trình mới trong nội dung tự do hoá thương mại hàng hoá. Đối với AEC, sau khi hoàn thành các nghĩa vụ trong CEPT, các quốc gia đã thoả thuận ký kết Hiệp định ATIGA nhằm đưa ra lộ trình cụ thể cho việc tự do hoá thương mại có những quy định rõ ràng hơn CEPT Như vậy, về nội dung cơ bản thì WTO và AEC đều giống nhau về phương thức thực hiện tự do hoá thương mại hàng hóa.
AEC có mức độ tự do hóa sâu và rộng hơn
Về mặt cơ bản thì AEC sử dụng ba loại văn bản để ràng buộc các nước thành viên đó là các hiệp định khung, cam kết của các thành viên và kết quả của các vòng đàm phán. Còn trong WTO thì phức tạp hơn một chút, còn có thêm một loại văn bản nữa là cam kết gia nhập của các thành viên WTO, cam kết mở cửa thị trường thương mại hàng hóa được thực hiện thông qua việc cắt giảm thuế nhập khẩu và loại bỏ hàng rào phi quan thuế cản trở thương mại. Ví dụ: Về cam kết giảm thuế nhập khẩu khi gia nhập WTO, VN đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (l0.600 dòng) và chỉ có ý nghĩa so sánh đơn giản và hết sức khái quát.
Nếu như đánh giá một cách chung nhất về mức độ tự do hóa thương mại hàng hóa giữa AEC và WTO thì chúng ta có thể đưa ra nhận xét rằng, trong AEC mức độ tự do hóa là sâu và rộng hơn khá nhiều so với WTO. Đối với WTO thì các loại hàng hóa đã được cắt giảm thuế chủ yếu vẫn nằm ở nhóm hàng công nghiệp, còn đối với nhóm hàng nông nghiệp thì vẫn tiếp tục là nhóm hàng cần được cắt giảm thuế dần dần. Nhưng trong AEC thì việc cắt giảm thuế được thực hiện ở hầu hết các loại hàng hóa – kể cả công nghiệp lẫn nông nghiệp. Ngoài ra, trong AEC thì mức thuế mà các quốc gia thành viên hướng tới cho các mặt hàng là giảm xuống còn từ 0% - 5%.
Thừa nhận rằng, AEC là các nền kinh tế “cộng” chứ không phải là một thực thể kinh tế đơn nhất, phương thức hợp tác của AEC vẫn là phương thức liên chính phủ và ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận, nhưng quan hệ kinh tế giữa các thành viên trong AEC vẫn còn rất hạn chế.
Phân tích như trên để thấy rằng, mặc dù mục tiêu của AEC và WTO đều là nhằm xóa bỏ những rào cản đối với tự do thương mại hàng hóa, nhưng về phương thức và mức độ tự do hóa là rất khác nhau. Điều này có thể giải thích là, do tính chất quy mô của hai tổ chức này khác nhau. Đối với một tổ chức lớn như WTO thì một lộ trình chung của nó có thể tác động đến rất nhiều quốc gia trên thế giới, đồng thời để đạt được sự đồng thuận trong các vòng đàm phán là rất khó khăn. Điều này là trái ngược với AEC với bao gồm chỉ 10 thành viên...
Cộng đồng Kinh tế ASEAN: chặng đường chông gai phía trước
Tháng 12 năm nay, khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hiện thực hóa kế hoạch hội nhập kinh tế khu vực – thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) – thì có thể tạo cơ hội cho khu vực trở thành một trong những thị trường mới nổi chính trên thế giới. Tuy nhiên, nhóm 10 quốc gia ASEAN còn cần phải vượt qua nhiều rào cản đáng kể để AEC thành công trong việc tự do hóa thương mại giữa các quốc gia thành viên.
Một trong những rào cản chính là sự yếu kém về thể chế của ASEAN, vốn đang cản trở những nỗ lực quy tụ lợi ích của các quốc gia thành viên và chống lại chủ nghĩa bảo hộ kinh tế trong các thành viên chủ chốt, chẳng hạn như Indonesia. Nhiều quốc gia trong khối cũng phải đối mặt với tình hình chính trị trong nước khó khăn trong thời gian tới, tiềm ẩn nguy cơ chuyển hướng, giảm sự sự chú ý vào các mục tiêu của quá trình hội nhập. Sự thành công của AEC phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố này nhưng dù có thành công hay thất bại, các doanh nghiệp nước ngoài trong khu vực sẽ phải đối mặt với một môi trường đầu tư có nhiều xáo trộn mà họ cần phải chuẩn bị chu đáo.
Một cơ hội đầu tư lớn
Khi trở thành một khối kinh tế thống nhất, ASEAN sẽ là nền kinh tế lớn thứ 7 toàn cầu với tổng GDP toàn khối đạt hơn 2.400 tỷ USD. AEC sẽ trở thành căn cứ sản xuất mới của các công ty dịch chuyển từ Trung Quốc sang và đứng trước viễn cảnh trở thành một thị trường tiêu dùng đầy hấp dẫn. Không có gì ngạc nhiên khi trong dài hạn, AEC trở thành một trong các động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực đạt được mức như dự kiến.
Theo kế hoạch chi tiết của AEC, khi hình thành được một cộng đồng kinh tế hoàn chỉnh, hội nhập đầy đủ, dòng chảy hàng hóa, dịch vụ, lao động có tay nghề và đầu tư sẽ được dịch chuyển tự do còn dòng vốn cũng sẽ được tự do hơn mặc dù còn một số hạn chế nhất định. Một thị trường hội nhập sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các tập đoàn đa quốc gia phương Tây do có chi phí sản xuất thấp hơn, cơ hội đầu tư và đổi mới tăng lên.
Nếu AEC được thực hiện thành công, khuôn khổ pháp lý sẽ được quy chuẩn hóa. Từ đó, các công ty có thể kinh doanh dễ dàng hơn trên toàn khu vực mặc dù họ cần phải đề ra một chiến lược cấp khu vực để tận dụng hết lợi thế từ môi trường đầu tư mới.
Còn ngược lại, nếu AEC không thành công, mục tiêu đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 6,4% trong giai đoạn 2011-2030 của khu vực ASEAN khó có khả năng trở thành hiện thực, làm suy yếu khả năng cạnh tranh của khu vực ở cả hai mặt sản xuất và thị trường. Hơn nữa, niềm tin của nhà đầu tư về năng lực của hiệp hội trong việc quy tụ lợi ích quốc gia của nhiều nước khác nhau sẽ bị đặt một dấu hỏi lớn.
Hội nhập kinh tế: Một cây cầu quá xa?
Quá trình hiện thực hóa đầy đủ tiềm năng của AEC đang gặp nhiều thách thức đáng kể. Điều ASEAN cần là trở thành một thực thể mang tính chất siêu quốc gia hùng mạnh, một mô hình tương tự như Liên minh châu Âu, trong đó có thể buộc các thành viên khác nhau tuân thủ các cam kết của họ trong quá trình hội nhập.
Nhưng thật không may, kế hoạch thành lập AEC lại phải trông chờ vào Ban thư ký ASEAN thiếu cả nhân lực và tài chính nên quá yếu để có thể hoạt động như một đầu tàu hiệu quả, thúc đẩy quá trình hài hòa hóa trong khu vực. Đáng chú ý, Ban thư ký ASEAN không có thẩm quyền áp đặt các lệnh trừng phạt với các quốc gia không tuân thủ cam kết chung do từ lâu nay, ASEAN áp dụng nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên.
Việc thiếu các quyền hạn bắt buộc các nước thành viên phải thực thi cam kết có thể coi là một gót chân Achilles. Thái độ hoài nghi về lợi ích của hội nhập khu vực có lẽ rõ ràng nhất ở nền kinh tế lớn nhất của ASEAN – Indonesia. Do một số đảng ở Indonesia có quan điểm chủ nghĩa dân tộc kinh tế nên tiến trình thực hiện AEC sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn khá lớn trong năm tới.
Tuy vậy, có một điểm sáng là Tổng thống Joko Widodo, luôn bày tỏ quan điểm rõ ràng với các nước thành viên ASEAN rằng hội nhập kinh tế sẽ không gây phương hại đến lợi ích quốc gia của Indonesia. Một số chính trị gia của Indonesia lo ngại rằng, tự do hóa và hội nhập thị trường đầu tư trong các lĩnh vực quan trọng, chẳng hạn như các dịch vụ tài chính sẽ làm cho các công ty trong nước không thể cạnh tranh được với các công ty từ các nền kinh tế phát triển hơn của ASEAN, đặc biệt là Singapore và Malaysia.
Mâu thuẫn trong nước làm suy yếu động lực chính trị
Ngoài Indonesia, giới quân sự nắm quyền lực chính trị ở Thái Lan, Myanmar vẫn đang tập trung vào việc củng cố hoặc bảo vệ quyền lực cho những năm tiếp theo. Bên cạnh đó, ở Philippines chưa rõ ai có thể sẽ kế nhiệm Tổng thống Aquino và giá dầu giảm có khả năng làm Philippines và Malaysia giảm bớt sự chú ý đến AEC.
Nếu các vấn đề chính trị nội bộ của một số nước nêu trên trong năm quan trọng này của AEC được ưu tiên hơn những mục tiêu hội nhập khu vực thì sẽ làm mất đi lực đẩy đang kể từ các quốc gia này, rất có thể hội nhập khu vực sẽ bị đẩy lùi thời hạn thực hiện.
Ra mắt AEC: một cột mốc quan trọng chứ không phải là một mục tiêu
Hai khó khăn chính: một tổ chức khu vực quá yếu để buộc các nước thành viên quan trọng tuân thủ luật chơi và một số nước thành viên gặp phải nhiều khó khăn chính trị trong nước sẽ làm quá trình ra mắt AEC thực sự gặp nhiều chông gai. Có khả năng là một trong số những yếu tố quan trọng nhất trong kế hoạch chi tiết AEC – loại bỏ các rào cản phi thuế quan - sẽ vẫn chưa được thực hiện vào ngày 31/12/2015. Điều này có lẽ không đáng ngạc nhiên vì các nước thành viên ASEAN có sự khác biệt rất lớn về cấu trúc chính trị và mô hình phát triển kinh tế.
Cuối cùng, sự ra mắt AEC nên được coi là một cột mốc đầu tiên của một mục tiêu đầy tham vọng, của một con đường dài và đầy chông gai để hình thành một cộng đồng kinh tế thực sự hội nhập chứ không phải là thời điểm kết thúc quá trình hội nhập kinh tế. Trừ phi có một nỗ lực thống nhất của các quốc gia thành viên mạnh nhất trong những tháng tới còn nếu không có thể sẽ mất nhiều năm (thậm chí nhiều thập kỷ) nữa thì ASEAN mới thực sự được coi là một khối kinh tế tổng hợp. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, một sự thông hiểu chi tiết về thực tế này là rất quan trọng nếu họ muốn thích ứng một cách hiệu quả với những thay đổi quan trọng diễn ra trong dài hạn ở thị trường năng động này.
Hội nhập AEC: Cơ hội cho ngân hàng, chứng khoán mở rộng thị phần
Hội nhập tài chính AEC sẽ giúp các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán của Việt Nam có cơ hội mở rộng thị phần và tiếp cận với công nghệ quản trị tiên tiến, hiện đại
Theo lộ trình đã cam kết, đến năm 2015, Việt Nam sẽ phải mở cửa, xóa bỏ các hạn chế trong ngành ngân hàng, bảo hiểm và thị trường vốn. Với việc thực hiện lộ trình cam kết từ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) trong lĩnh vực tài chính, thị trường tài chính Việt Nam sẽ liên thông với thị trường các nước AEC.
Theo đánh giá của Viện Chiến lược Chính sách thuộc Bộ Tài chính, việc thành lập AEC vào năm 2015 có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập ASEAN. Với việc tự do hóa hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và dòng vốn, AEC được kỳ vọng sẽ đem lại cơ hội cho sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính và kinh tế của các nước AEC nói chung và Việt Nam nói riêng.
Đánh gía về cơ hội cho thị trường tài chính Việt Nam, Viện Chiến lược Chính sách cho rằng, để đón đầu cơ hội từ AEC, nhiều ngân hàng thương mại của các nước ASEAN như Kasikorn của Thái Lan, Ngân hàng Phát triển Singapore, Maybank của Malaysia… đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Không chỉ có các ngân hàng, mà sẽ có thêm nhiều tập đoàn, công ty bảo hiểm, chứng khoán cũng sẽ mở rộng kinh doanh tại thị trường Việt Nam khi AEC đi vào hoạt động.
Sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam một mặt mang lại cơ hội cho người tiêu dùng có sự lựa chọn đa dạng hóa hơn đối với các sản phẩm dịch vụ tài chính, chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao do các doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt hơn, không chỉ với các đối thủ trong nước mà cả các đối thủ đến từ các nước thành viên AEC.
Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu tài chính cho các hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán) còn có thể thu hút khách hàng Việt Nam dựa trên uy tín thương hiệu, tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm đa dạng, chất lượng, bề dày kinh nghiệm...
Ngoài ra, AEC sẽ giúp tăng cường phạm vi che phủ và mức độ phục vụ của ngành dịch vụ tài chính ở những vùng, những ngành mà mức độ thâm nhập và phục vụ của dịch vụ tài chính vẫn còn thấp.
Theo Viện Chiến lược Chính sách, hội nhập tài chính AEC sẽ giúp các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán của Việt Nam có cơ hội mở rộng thị phần và tiếp cận với công nghệ quản trị tiên tiến, hiện đại.
Quy mô GDP của các nước ASEAN đạt trên 2,3 nghìn tỷ USD và tốc độ tăng trưởng bình quân trên 5% mỗi năm, dân số khoảng trên 625 triệu người, cơ cấu dân số trẻ, mức thu nhập bình quân đầu người đạt gần 4.000 USD/người/năm, AEC sẽ khuyến khích các hoạt động kinh doanh và đầu tư của khu vực ASEAN do cam kết tự do hóa dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ, lao động, đầu tư. Ngành bảo hiểm trong khu vực sẽ được hưởng lợi đáng kể từ dòng chảy lao động và dịch vụ logistics giữa các nước thành viên ASEAN, giữa ASEAN với Trung Quốc và Ấn Độ.
Hội nhập AEC giúp mở rộng giao thương giữa các nước trên tất cả các dịch vụ vận tải đường biển, đường bộ và đường hàng không, do đó sẽ tạo áp lực giúp ngành bảo hiểm phát triển thêm các sản phẩm bảo hiểm mới dành riêng cho thị trường ASEAN. Đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng và hoạt động kinh tế ở khu vực phát triển tất yếu sẽ kéo theo việc gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán ở Đông Nam Á.
"Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt thời cơ mở rộng thị trường, phát triển hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh, cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho các nước trong khu vực ASEAN, đồng thời tiếp cận với công nghệ quản trị tiên tiến. Trên thực tế, một số ngân hàng lớn của Việt Nam cũng đã mở văn phòng đại diện tại thị trường các nước ASEAN, nỗ lực mở rộng cơ hội đầu tư ra ngoài lãnh thổ. Xu hướng này sẽ tiếp tục tăng lên khi ACE chính thức đi vào hoạt động", cơ quan này đánh giá.
Ngoài ra, Viện Chiến lược Chính sách cũng cho rằng, tự do hóa đầu tư và dòng vốn sẽ tạo thuận lợi để phát triển thị trường tài chính ở bậc cao hơn.
Sự tự do luân chuyển các dòng vốn đầu tư của AEC sẽ có tác động tích cực đến phát triển hệ thống tài chính của Việt Nam không chỉ theo chiều rộng mà còn theo chiều sâu. Đối với thị trường chứng khoán, sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài, các quỹ đầu tư chứng khoán, các tập đoàn tài chính lớn sẽ góp phần làm chuyên nghiệp hóa thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó tăng cường kinh nghiệm và nâng cao tiêu chuẩn về quản trị công ty, quản trị rủi ro, kỹ năng phân tích, đầu tư cho các doanh nghiệp trong nước. Sự luân chuyển tự do của các dòng vốn cũng khiến cho quy mô của thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng tăng lên đáng kể và trở thành kênh huy động vốn quan trọng của doanh nghiệp, đáp ứng các nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế.
Về mặt thách thức, Viện Chiến lược Chính sách cho rằng, do có sự tham gia của các định chế tài chính, các tập đoàn tài chính lớn nên sẽ gia tăng áp lực cạnh tranh cho thị trường tài chính trong nước.
Theo một số khảo sát gần đây, chỉ 30% doanh nghiệp của Việt Nam có nhận thức đầy đủ về AEC để lên kế hoạch nắm bắt cơ hội kinh doanh mới. Do vậy, để có lợi thế trong cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn và thực hiện quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế.
Ngoài ra, sự gia tăng dòng vốn, đặc biệt từ nước ngoài vào cũng làm gia tăng mối lo về “bong bóng” giá tài sản và ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ độc lập. Vì vậy, cần có các biện pháp ứng phó kịp thời để giảm thiểu tác động tiêu cực đối với thị trường tài chính khi dòng vốn đảo chiều đột ngột.
Với một thị trường chung cho toàn khu vực ASEAN, việc nhận diện và giám sát rủi ro hệ thống tài chính cũng là yêu cầu thiết yếu đối với mọi quốc gia, nhất là với các nước đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Do đó, cần ứng dụng các mô hình phân tích định lượng, cảnh báo sớm, kiểm định rủi ro đối với từng định chế tài chính riêng lẻ cũng như toàn hệ thống tài chính để nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát từ xa, phục vụ tốt hơn cho hoạt động điều hành vĩ mô và ổn định kinh tế.
Tiến độ thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Chỉ chưa đầy một năm nữa, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ được thiết lập. Đứng trước viễn cảnh một thị trường tiêu dùng thống nhất với 600 triệu dân, các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong khu vực đang tỏ ra rất quan tâm, háo hức.
Theo kế hoạch, AEC sẽ được thành lập vào ngày cuối cùng của tháng 12/2015, tạo ra dòng chảy tự do hơn về thương mại, vốn và lao động trong 10 quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Nội dung chi tiết của AEC có nhiều mục tiêu tương tự như Eurozone ngoại trừ một số mục tiêu chưa thể áp dụng thành công như có một đồng tiền chung và ngân hàng trung ương.
Bên cạnh đó, không ít mục tiêu đã được các nước quan tâm thúc đẩy, tiến độ thực hiện mạnh mẽ hơn các mục tiêu khác. Cụ thể, dòng chảy hàng hóa và vốn sẽ dịch chuyển dễ dàng hơn so với dòng chảy lao động và doanh nghiệp. Điều này được thể hiện trong hàng loạt các văn bản luật đã được các nước ban hành cũng như sự đầu tư rất lớn vào các dự án cơ sở hạ tầng trong khu vực.
Ví dụ như tại Lào, nước này gần đây đã thông qua thủ tục "dịch vụ một cửa" tại cơ quan hải quan của họ, nhờ đó cắt giảm thời gian thông quan cho các lô hàng qua biên giới chỉ còn một nửa so với trước đây.
Đồng thời, nhiều dự án phát triển đường sắt cao tốc đã tìm được nguồn tài trợ, đang trong giai đoạn lập kế hoạch hoặc xây dựng. Đơn cử như tuyến đường từ Singapore tới thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia, tuyến đường từ Bangkok đến Côn Minh của Trung Quốc chạy ngang qua Việt Nam và Lào.
Tuy nhiên, nhiều nước vẫn cần cải thiện nhiều hơn nữa luật đầu tư và nhập cư của mình để đáp ứng các mục tiêu của AEC. Tính chung, các nước thành viên đã đáp ứng được khoảng 80% các tiêu chuẩn của AEC, 20% còn lại là các mục tiêu khó khăn nhất.
Một yêu cầu đặt ra cho tất cả các nước thành viên là các nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần đa số trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh - nhưng chỉ một số ít các quốc gia đáp ứng được các tiêu chí này. Campuchia và Singapore là những nước có ít hạn chế đối với các công ty nước ngoài trong khi Thái Lan là quốc gia có nhiều hạn chế nhất, cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu chỉ có 49% cổ phần trong tất cả các loại hình doanh nghiệp.
Tương tự như vậy, kế hoạch của AEC về tạo dựng dòng chảy tự do lao động gặp rất nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện. Các quốc gia như Thái Lan, Malaysia và Singapore đều có luật chỉ cho phép tiếp nhận lao động nước ngoài đến làm việc chỉ khi không thể tìm được lao động địa phương phù hợp cho các vị trí này.
Ngoài ra, các nước còn có những lo ngại về tình trạng bất ổn sẽ xảy ra nếu lao động nước ngoài lấy mất quá nhiều việc làm của người dân bản địa. Năm 2014, tại Singapore đã xảy ra một cuộc biểu tình phản đối nhiều lao động tay nghề cao người nước ngoài lấy đi nhiều công việc tốt của người dân địa phương.
Một số quốc gia, chẳng hạn như Philippines, có một số lượng lớn người lao động có kỹ năng, sử dụng thành thạo tiếng Anh và sẵn sàng làm việc với mức lương thấp. Mối lạc quan về AEC có thể nhanh chóng chuyển sang thành cơn giận dữ tại bất kỳ quốc gia nào nếu lực lượng lao động nước ngoài, không chỉ có tài năng hơn và nói tiếng Anh tốt hơn nhưng sẵn sàng nhận mức thu nhập ít hơn so với người dân địa phương, ồ ạt tràn vào.
Tóm lại, AEC có thể sẽ không thành hiện thực vào một ngày duy nhất mà thay vào đó sẽ được thực hiện dần theo thời gian. Một số biện pháp, về mặt lý thuyết, nghe có vẻ tốt nhưng có thể không được thực hiện một cách dễ dàng. Để thực hiện được đầy đủ các mục tiêu của AEC, các nước cần triển khai dần dần các bước nhỏ. Trong dài hạn, Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ thay đổi hoàn toàn môi trường kinh doanh, đầu tư, lao động và thương mại của khu vực Đông Nam Á.
AEC: Cuộc ganh đua khốc liệt trong bối cảnh hội nhập
Chi phí sản xuất, nhất là chi phí nhân công, luôn là một “bài toán khó” đối với mỗi doanh nghiệp trong định hướng đầu tư.
Đó là lý do mà nhiều quốc gia luôn cố gắng nâng cao lợi thế cạnh tranh bằng cách tăng cường đầu tư và phát triển nguồn nhân lực.
Với lợi thế về lao động giá rẻ, dồi dào cùng những chính sách ưu đãi đầu tư hợp lý, Trung Quốc lâu nay vẫn được coi là “công xưởng của thế giới” trong mắt giới doanh nghiệp nước ngoài.
Tuy nhiên, trong bối cảnh châu Á đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế mới, trật tự này đang dần thay đổi.
“Công xưởng thế giới” sắp hết thời?
Có vẻ như Bắc Kinh đang vướng vào một kịch bản tương tự những “con hổ châu Á” khác như Hàn Quốc hay vùng lãnh thổ Đài Loan: đó là việc giá nhân công tăng cao buộc nhiều doanh nghiệp nước ngoài phải dịch chuyển nhà xưởng ra khỏi các địa bàn này.
Kể từ năm 2001, mức lương trong các ngành chế tạo của Trung Quốc đã tăng trung bình 12% mỗi năm, qua đó làm tăng chi phí sản xuất. Chẳng hạn như sau vụ đình công tại Trung Sơn vào năm 2010, Honda đã tăng 47% lương cho công nhân Trung Quốc.
Foxconn và nhiều tập đoàn công nghệ lớn khác cũng tăng gấp đôi lương cho công nhân tại nhà máy ở Thâm Quyến sau một số vụ tự tử tại đây.
Kết quả là nhiều tập đoàn hay công ty đa quốc gia lớn như Nike, Samsung, Microsoft hay Citizen đã phải lần lượt rời khỏi Trung Quốc.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên Kinh tế Việt Nam và Thế giới, ông Gyorgy Sziraczki, Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, nói rằng sau một giai đoạn đánh dấu bởi nguồn cung lao động giá rẻ dồi dào từ khu vực nông thôn lên thành thị, tình trạng già hóa dân số nhanh chóng của Trung Quốc gần đây đã dẫn tới sự chuyển dịch của một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động từ nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới này sang các quốc gia khác.
Theo số liệu từ Cục thống kê quốc gia Trung Quốc, dân số trong độ tuổi lao động của nước này (từ 16 đến 59 tuổi) đã giảm 3,71 triệu người trong năm 2014, so với mức giảm 2,44 triệu người trong năm 2013. Đây là hậu quả của chính sách một con kéo dài trong vòng 36 năm qua của Bắc Kinh.
Ngoài ra, Giám đốc Sziraczki cũng cho rằng một yếu tố quan trọng khác dẫn tới chiều hướng chuyển dịch này chính là việc kinh tế Trung Quốc ngày càng phát triển theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa và tập trung vào những sản phẩm có giá trị cao, cùng lực lượng lao động ngày càng có tri thức và tay nghề cao hơn.
Kết quả là những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và áp dụng công nghệ thấp như sản xuất đồ chơi, dệt may, da giày, đang dần chuyển sang các quốc gia khác.
Tranh chấp liên quan đến lãnh thổ giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng đang khiến doanh nghiệp Nhật “tháo chạy” khỏi nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trong năm 2013, đầu tư của Nhật Bản vào khu vực Đông Nam Á đã tăng gấp đôi, trong khi con số này vào Trung Quốc giảm đến 40%.
Cuối cùng, sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc, tình trạng ô nhiễm đô thị cùng sự tăng giá của đồng nhân dân tệ (NDT) đang là nguyên nhân dẫn đến làn sóng di dời lao động nước ngoài ra khỏi nước này.
Số liệu từ công ty hỗ trợ tái định cư UniGroup Relocation cho hay trong năm 2014, số lao động ngoại quốc rời khỏi Trung Quốc cao gấp đôi số nhân công đặt chân đến nước này, với số người đến từ Mỹ giảm 22% so với năm 2013.
Như một lẽ tất nhiên, bến đỗ cho những dòng chảy vốn ra khỏi Trung Quốc không đâu khác chính là các quốc gia láng giềng của Bắc Kinh trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN), nơi có lợi thế nguồn lao động trẻ trung và dồi dào, nằm dưới mức tuổi lao động trung bình của thế giới là 29,7 tuổi, cùng chi phí nhân công thấp hơn.
Thật vậy, trong khi một công nhân nhà máy tại Trung Quốc hiện được trả trung bình 27,50 USD/ngày thì tại Indonesia và Việt Nam, con số này chỉ lần lượt là 8,60 USD/ngày và 6,70 USD/ngày.
Thêm vào đó, khoảng cách địa lý ngay gần với Trung Quốc cũng là thế mạnh dẫn tới việc các công ty đa phương có ý định dời Trung Quốc chọn các quốc gia Đông Nam Á như Myanmar, Campuchia, Indonesia hay Việt Nam là điểm đến của họ.
May mặc là một trong những lĩnh vực đầu tiên lựa chọn xu hướng này. Trong giai đoạn từ năm 2011-2014, xuất khẩu quần áo của Myanmar đã tăng từ 700 triệu USD lên 1,7 tỷ USD. H&M, hãng bán lẻ quần áo của châu Âu, cũng vừa chuyển dây chuyền sản xuất đồ len từ Trung Quốc sang Nhà máy sản xuất đồ dệt kim Liaoyuan của Myanmar.
Steven Shen, Giám đốc phụ trách mảng sản xuất của H&M, cho hay công nhân Trung Quốc giờ đòi hỏi cao hơn, họ đã có những “công việc khác tốt hơn” là suốt ngày ngồi ở máy khâu áo len và gắn nhãn lên cổ áo tại H&M. Shen dự định sẽ mở thêm một nhà máy tương tự tại thành phố Bago của Myanmar trong năm nay.
Trong khi đó, Microsoft - tập đoàn công nghệ đã mua mảng thiết bị và dịch vụ của Nokia - cũng lên kế hoạch cắt giảm 12.500 việc làm tại Trung Quốc trong năm nay, đồng thời mở rộng hoạt động sản xuất tại Việt Nam.
AEC: Cơ hội song hành cùng thách thức
Dự kiến, sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm nay, với tổng dân số khoảng trên 600 triệu người, sẽ thu hút các tập đoàn đa quốc gia khi, thị trường và quy mô kinh tế được mở rộng với sự dịch chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, lao động có tay nghề và các dòng vốn đầu tư.
Theo một nghiên cứu gần đây của ILO và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), AEC dự kiến sẽ tạo thêm khoảng 14 triệu việc làm cho khu vực Đông Nam Á đến năm 2025. Tuy nhiên, cơ hội luôn đi đôi với thách thức. Hội nhập đòi hỏi các quốc gia ASEAN - mà cụ thể là Việt Nam - phải chuẩn bị kỹ càng để nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực lao động.
Đánh giá về lao động Việt Nam, Giám đốc Gyorgy Sziraczki nhận định: “Việt Nam có một lực lượng lao động lên tới khoảng 54 triệu, với nhiều người lao động trẻ trung, chăm chỉ, thạo nghề, nghiêm túc và có tinh thần kinh doanh. So với nhiều nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, Việt Nam có hệ thống giáo dục cơ bản tương đối tốt cùng hệ thống chăm sóc sức khỏe đảm bảo - những yếu tố quan trọng đối với cả lực lượng lao động cũng như sự phát triển rộng hơn của cả đất nước. Song, về dài hạn, lao động Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức về kinh tế xã hội do vấn nạn già hóa dân số gây ra.” Hiện nay, tuổi thọ trung bình người Việt đã được nâng lên 75 tuổi so với mức 66 tuổi trong năm 1990.
Một vấn đề khác cần phải được giải quyết, theo Giám đốc Sziraczki, đó là chất lượng lao động tại Việt Nam. Mặc dù giáo dục cơ bản hầu như được phổ cập hoàn toàn và tỷ lệ biết chữ đạt hơn 98%, nhưng Việt Nam vẫn cần phải cải thiện mảng đào tạo nghề cũng như hệ thống giáo dục ở các cấp cao hơn.
Khi hội nhập sâu rộng hơn vào thị trường khu vực và toàn cầu, nhu cầu đối với lao động có kỹ năng trung bình và kỹ năng cao sẽ tăng lên. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chú trọng trang bị cho người lao động các "kỹ năng mềm" như như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ và năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng khởi nghiệp.
Khu vực tư nhân đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hiện đại hóa chương trình đào tạo, dạy nghề cũng như phương pháp giáo dục nhằm đảm bảo rằng quá trình giáo dục, đào tạo cho thế hệ trẻ đáp ứng được nhu cầu hiện tại và tương lai của thị trường lao động.
Khi đề cập đến việc Việt Nam là một trong những quốc gia có năng suất lao động còn khá thấp, người đứng đầu ILO ở Việt Nam cho rằng năng suất lao động của một quốc gia hầu như không thể phản ánh mức độ chuyên cần và khả năng của người lao động của quốc gia đó mà trước hết phụ thuộc vào mức độ hiệu quả sử dụng lao động kết hợp với các yếu tố sản xuất khác, như máy móc và công nghệ, và lượng máy móc và công nghệ mà một người lao động của quốc gia đó được sử dụng.
Hơn nữa, nếu nhìn lại trong vòng 10 năm qua thì năng suất lao động của Việt Nam, mặc dù vẫn ở mức thấp, nhưng là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Báo cáo của ILO cho hay năng suất lao động của Việt Nam sẽ tăng trên hai lần trong giai đoạn 2010-2025. Con số này sẽ tăng mạnh nhất trong ngành công nghiệp (138,6%), các ngành khác cũng có mức tăng đáng kể, cụ thể là nông nghiệp (94,5%) và dịch vụ (83,8%).
AEC cũng sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam xuất khẩu lao động sang các nước. Trong 5 năm qua, tỷ lệ lao động Việt Nam sang làm việc tại các quốc gia ASEAN ngày càng gia tăng, nhưng phần lớn những lao động này có trình độ, kỹ năng ở mức thấp và trung bình, làm việc trong các ngành nông nghiệp, xây dựng và sản xuất chế tạo.
Do đó, Việt Nam cần chú trọng vào việc xuất khẩu lao động có tay nghề cao, đồng thời tạo điều kiện để khi trở về họ có thể mang những kiến thức, kinh nghiệm học được ở nước ngoài để đóng góp cho đất nước.
Đông Nam Á đang bước vào một cuộc ganh đua khốc liệt trong bối cảnh hội nhập. Với kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng chậm lại cùng những căng thẳng liên quan đến chính trị với những quốc gia khác trên thế giới đã khiến Bắc Kinh dần đánh mất đi lợi thế cạnh tranh vốn có. Do đó, “sức hút” của ngôi sao mới mang tên Đông Nam Á được cho là sẽ còn kéo dài trong tương lai.
Cộng đồng Kinh tế ASEAN cần minh bạch hơn
Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 26 vừa qua, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ghi nhận rằng quá trình thực hiện kế hoạch thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã đạt được tiến bộ đáng kể.
Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị nhấn mạnh, các nhà lãnh đạo ASEAN hoan nghênh các nước đã thực hiện được 458 mục tiêu trong Biểu đánh giá thực hiện AEC trong giai đoạn 2008-2015. Các Bộ trưởng kinh tế ASEAN cũng đánh giá cao việc các quốc gia ASEAN đã xác định được các mục tiêu ưu tiên có tác động lớn nhất đối với các hoạt động thương mại khu vực và có thể được thực hiện ngay trong năm nay. Nếu cộng dồn các mục tiêu đã thực hiện được và các mục tiêu ưu tiên thực hiện trong năm nay thì đến hết năm nay, các nước sẽ thực hiện được 506 mục tiêu, chiếm 90,5% tổng số mục tiêu của Biểu đánh giá thực hiện AEC.
Điều này có ý nghĩa như thế nào đối với các công dân trong khu vực? Họ nên đánh giá như thế nào từ những động thái hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN vào ngày 1/1/2016?
Chúng ta có thể chia họ thành ba nhóm: nhóm thứ nhất là các học giả và các nhà phân tích AEC, nhóm thứ 2 là cộng đồng doanh nghiệp và nhóm thứ ba là người dân ASEAN.
Đối với nhóm đầu tiên, Tuyên bố trên cũng có ý nghĩa nhất định.
Trong các thông tin công khai về Biểu kế hoạch thực hiện AEC năm 2007, không có thông tin về các mục tiêu quan trọng ưu tiên thực hiện. Điều này làm cho các nhà quan sát gặp không ít khó khăn khi muốn kiểm chứng thông tin các nước ASEAN đã thực hiện được 90% mục tiêu trong Bản đánh giá thực hiện AEC và qua đó phần nào cho thấy ASEAN còn thiếu minh bạch.
Để đo lường một cách toàn diện sự tiến bộ trong việc thực hiện các mục tiêu của AEC, việc tiếp cận thông tin của các nước trong khu vực liên quan đến AEC cần dễ dàng hơn nhưng điều này khó có thể xảy ra trong tương lai gần.
Hơn nữa, Ban thư ký ASEAN chỉ công bố kết quả của Biểu đánh giá thực hiện AEC trong các giai đoạn 2008-2009 và 2010-2011, kết quả các năm tiếp theo không được công bố mà không nêu lý do cụ thể. Điều này làm dấy lên các phỏng đoán kết quả Biểu đánh giá thực hiện AEC đang ở mức thấp.
Trong báo cáo kết quá thực hiện mục tiêu AEC giai đoạn 2008-09, khoảng 87,6 % (tương đương 105 mục tiêu) được hoàn thành. Trong giai đoạn thứ hai 2010-11, tỷ lệ hoàn thành còn thấp hơn, chỉ 56,4% (tương đương 172 mục tiêu). Kết quả này khó có thể được chấp nhận vì đã làm giảm độ tin cậy đối với các nước thành viên trong việc đáp ứng các cam kết, gây khó dễ cho mục tiêu chiến lược chung của toàn khu vực trên trường quốc tế.
Mở rộng không gian kinh doanh
Đối với các doanh nhân, AEC được dự báo sẽ tạo ra một không gian sản xuất rộng hơn, nơi họ có thể thực hiện các hoạt động sản xuất mà không cần phải lo lắng về biên giới hành chính quốc gia hiện có trong khu vực. Ngoài ra, họ cũng có cơ hội khai thác một thị trường với quy mô dân số 617 triệu người cùng các lợi thế so sánh khác nhau của các nước thành viên trong khu vực.
Tuy vậy, để tạo ra được một không gian sản xuất rộng hơn như vậy đòi hỏi tất cả các rào cản đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ, đầu tư phải được loại bỏ hoàn toàn.
Liệu 90,5% mục tiêu đã được thực hiện trong Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị có xóa bỏ được các hạn chế trong môi trường kinh doanh?
Câu trả lời chủ yếu là 'không'.
Một vấn đề nổi lên trong gần như tất cả các cuộc thăm dò ý kiến của giới doanh nghiệp là mặc dù mức thuế quan được cắt giảm hoặc loại bỏ giữa các nước ASEAN, các hàng rào phi thuế quan vẫn còn rất phổ biến. Các hàng rào phi thuế quan này bao gồm cấp phép không tự động, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, chi phí hành chính gắn liền với việc được hưởng các chính sách ưu đãi, thiếu sự kết nối hạ tầng và thể chế.
Các doanh nhân cũng đã phàn nàn về sự thiếu thông tin các mục tiêu được thực hiện của AEC. Đây là một lý do quan trọng cho làm họ không quan tâm chú ý nhiều đến các vấn đề khu vực.
Thị trường tiêu dùng được mở rộng
Đối với các công dân bình thường của ASEAN, đạt được con số hơn 90,5% nói trên không có nhiều ý nghĩa. Điều quan trọng nhất với họ là khi các mục tiêu của AEC được thực hiện, kinh tế sẽ tăng trưởng và phát triển hơn, họ sẽ được hưởng mức thu nhập cao hơn và thị trường có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của họ tốt hơn. Tuy nhiên, chưa ai có thể khẳng định tất cả những điều này sẽ xảy ra và nhiều điều cần có thời gian để kiểm chứng.
Mặc dù vậy, chúng ta có thể thấy rằng các sáng kiến của ASEAN như miễn thị thực đi lại cho công dân ASEAN và mở cửa các dịch vụ vận tải hàng không theo hiệp định bầu trời mở ASEAN là khá hữu ích cho đa số người dân trong khu vực.
Ở thị trường lao động, người dân ASEAN cũng có thể cảm nhận thấy các tác động của AEC nhưng không hẳn mọi tác động đều mang tính tích cực.
Những mục tiêu của AEC nhằm hiện thực hóa ý tưởng tái cấu trúc nguồn lực, phân bổ lại nguồn lực từ các hoạt động có năng suất thấp sang các hoạt động kinh tế hiệu quả hơn sẽ rất mất thời gian để triển khai. Do mỗi nước vẫn còn có các luật và quy định riêng về thị trường lao động nên các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về lao động có tay nghề cao trong khu vực chưa phát huy được nhiều tác dụng. Thông thường, các luật và quy định này được ban hành để bảo vệ lao động có tay nghề cao trong nước trước sự cạnh tranh từ lao động nước ngoài.
Do đó, các nhà quan sát AEC và các bên hưởng lợi trực tiếp từ AEC đều cho rằng Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị Thượng định ASEAN lần thứ 26 vừa qua về AEC có rất ít hiệu ứng tích cực.
Số liệu tổng hợp 458 mục tiêu đã được thực hiện không nói lên bản chất thực sự của vấn đề từng nước thành viên riêng lẻ đã thực hiện đến đâu và ảnh hưởng như thế nào đến toàn bộ khu vực ASEAN. Hình thức xây dựng các báo cáo thực hiện AEC cần được cải cách mạnh mẽ.
Để tăng cường tính minh bạch, Biểu đánh giá thực hiện AEC cần bổ sung thêm các về quá trình thực hiện các mục tiêu AEC của các nước thành viên. Qua đó, các doanh nghiệp và người dân ASEAN có thể hiểu được quá trình hội nhập kinh tế ASEAN.
Biểu đánh giá thực hiện AEC nên được xem như là một công cụ để khuyến khích các quốc gia thành viên tuân thủ các mục tiêu nêu trong Kế hoạch thành lập AEC. Các nước cần nêu rõ ràng những gì cần thực hiện và không cần thực hiện nhằm tạo thêm động lực cải cách.
Tuy nhiên, ASEAN là một tổ chức liên chính phủ chứ không phải là tổ chức siêu quốc gia nên chỉ có thời gian mới trả lời được liệu cơ chế Biểu đánh giá thực hiện có thúc đẩy phát triển hay không.
Nguồn: Assemconnectvietnam
Tư khóa: Tổng hợp, tin tức, cộng đồng, ASEAN, AEC, tháng 5, 2015






















