JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Chuyên đềHiệp định đã ký kếtCộng đồng kinh tế ASEANMở rộng “đối tác”: những đặc trưng trong quan hệ đối ngoại của tổ chức ASEAN

Mở rộng “đối tác”: những đặc trưng trong quan hệ đối ngoại của tổ chức ASEAN

tho nhi ky 1

Trong một thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 50 diễn ra vào ngày 5/8/2017 tại thủ đô Manila, Philipines, Bộ trưởng Ngoại giao các nước đã tuyên bố kêt nạp Thổ Nhĩ Kỳ trở thành Đối tác Đối thoại Lĩnh vực (Sectoral Dialogue Partner) của tổ chức ASEAN. Đây là kết quả từ những nỗ lực sau nhiều năm của Thổ Nhĩ Kỳ trong việc chính thức hóa quan hệ hợp tác với khối ASEAN. Còn về phía tổ chức ASEAN, sự kiện này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại của khối khu vực. Hành trình phát triển của tổ chức ASEAN trong 50 năm qua, không chỉ chứng kiến sự mở rộng của Cộng đồng thành viên bên trong tổ chức này lên thành 10 quốc gia Đông Nam Á, mà còn chứng kiến sự thiết lập các quan hệ đối tác chính thức với nhiều quốc gia và tổ chức bên ngoài khu vực, cùng hướng tới những mục tiêu và lợi ích chung.

Quan hệ đối ngoại sâu rộng

Mặc dù các quốc gia không nằm ở khu vực Đông Nam Á không thể trực tiếp trở thành thành viên trong khối ASEAN, điều lệ của tổ chức cũng có quy định rằng, các quốc gia đó vẫn có thể “gia nhập” thông qua chính sách quan hệ ngoại giao mở rộng mà khối ASEAN đã xây dựng qua nhiều thập kỷ. Tổ chức ASEAN, dưới sự đại diện bởi các Bộ trưởng Ngoại giao, có thể trao cho một tổ chức bên ngoài những loại chức danh như Đối tác Đối thoại chính thức, Đối tác Đối thoại Lĩnh vực, Đối tác phát triển, Quan sát viên hay Khách mời. Những chức danh này được phân loại đa dạng tùy thuộc vào độ rộng hay chiều sâu của sự hợp tác, trong đó, chức danh Đối tác Đối thoại là bao quát nhất. Tổ chức ASEAN sẽ quyết định nâng tầm quan hệ với một tổ chức bên ngoài dựa trên các cơ sở về cường độ và nội dung hợp tác, cũng như tiềm năng đóng góp của tổ chức đó cho các mục tiêu phát triển của khối ASEAN. Cần phải nhấn mạnh rằng, tương tự như những quyết định quan trọng khác trong khối ASEAN, việc trao tặng chức danh đối tác chính thức cho một tổ chức bên ngoài cũng chỉ được thực hiện khi có sự đồng thuận của toàn bộ các thành viên trong khối.  

Chủ trương chính thức về việc thiết lập các mối quan hệ Đối tác Đối thoại của ASEAN ra đời vào những năm 1970, trong các Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN với các Đối tác Đối thoại (PMC), tại đó, các Bộ trưởng Ngoại giao của ASEAN sẽ họp mặt với những người đồng cấp từ các đối tác bên ngoài (ví dụ như hội nghị ASEAN-Úc, ASEAN-Nhật Bản). Hiện nay, ASEAN đã có 10 Đối tác Đối thoại chính thức, bao gồm: Úc, Canada, Trung Quốc, Liên Minh Châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Nga và Mỹ. Đặc trưng cơ bản của quan hệ Đối tác Đối thoại ASEAN là các cuộc trao đổi và đối thoại cấp cao, bao gồm các Hội nghị Bộ Trưởng và Hội nghị thượng đỉnh.

Ban đầu, các quan hệ Đối tác Đối thoại chủ yếu chỉ tập trung vào vấn đề đảm bảo kỹ thuật và hỗ trợ cho các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực ASEAN. Về sau, nội dung đối thoại được mở rộng đến các vấn đề như: xúc tiến thương mại và đầu tư; đẩy mạnh liên kết văn hóa – xã hội; trao đổi quan điểm về các vấn đề chính trị khu vực; và xác định các thách thức mới như chủ nghĩa khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia – tất cả những vấn đề tương ứng với ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN. Điều này làm nổi bật sự tự tin của tổ chức ASEAN, như một đối tác năng động và ngang hàng trong công tác xúc tiến ổn định khu vực và tăng trưởng kinh tế. 

Các thành viên trong khối ASEAN cũng được luân phiên nắm giữ vai trò Quốc gia Điều phối trong mỗi Quan hệ Đối thoại. Ví dụ, trong giai đoạn 2015-2018, Philipines là quốc gia điều phối cho quan hệ đối thoại ASEAN-Canada; Singapore sẽ dẫn dắt quan hệ ASEAN-Trung Quốc và Vương quốc Brunei sẽ đại diện cho khối trong Quan hệ đối thoại ASEAN-Nhật. Mỗi quốc gia điều phối sẽ có nhiệm vụ xúc tiến và phối hợp các hoạt động của khối ASEAN với một Đối tác Đối thoại cũng như đồng chủ tỏa các cuộc họp liên quan. Ngoài ra, ASEAN còn có những Quốc gia điều phối cho quan hệ hợp tác với các tổ chức như Khối thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur) và Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC). Cùng lúc đó, ASEAN cũng đang có một quan hệ hợp tác toàn diện với Liên hợp quốc, được phát triển lên từ quan hệ đối thoại với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).

Bên cạnh các Đối tác Đối thoại, ASEAN còn thiết lập quan hệ Đối tác Đối thoại Lĩnh vực với Pakistan, Na-Uy, Thụy Sĩ, và mới đây là Thổ Nhĩ Kỳ. Các quan hệ hợp tác này thường sẽ hướng đến theo đuổi những vấn đề/lĩnh vực cụ thể hơn. ASEAN cũng thiết lập quan hệ Đối tác Phát triển với Đức trong lĩnh vực xây dựng năng lực và hợp tác phát triển. Bên cạnh đó, Papua New Guinea và Đông Timor cũng đã được trao tặng vị trí Quan sát viên lần lượt vào các năm 1976 và năm 2002. Xét về vị trí địa lý của hai quốc gia này, khả năng kết nạp họ trở thành thành viên chính thức trong khối ASEAN cũng rất khả thi. Chủ tịch ASEAN cũng có thể mời gọi các quốc gia bên ngoài tham gia vào các Hội nghị Bộ trưởng và Hội nghị Thượng đỉnh với vai trò khách mời.

Một ASEAN hướng ngoại

Văn kiện Tầm nhìn cộng đồng ASEAN 2025 nhấn mạnh, tổ chức ASEAN khao khát được trở thành “một cộng đồng hướng ngoại” và “giữ một vai trò mang tính trách nhiệm và tính đóng góp xây dựng ở mức độ toàn cầu”. Tăng cường các quan hệ đối ngoại của khối ASEAN là một cách để hiện thực hóa mục tiêu này. Bên cạnh các chính sách quan hệ Đối tác Đối thoại và mô hình ASEAN+1, ASEAN còn dẫn dắt các dự án hợp tác khác như ASEAN+3, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS). Mạng lưới các quan hệ song phương và đa phương của khối ASEAN ngày càng được mở rộng. Tổ chức ASEAN qua đó cũng trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa khu vực ở Châu Á, hay còn gọi là “vai trò trung tâm của ASEAN”.

Mặc dù, thiết lập mới các quan hệ đối tác là điều mà ai cũng mong  muốn, vẫn cần phải chú ý rằng, các bên tham gia, khối ASEAN lẫn các quốc gia đối tác tiềm năng, phải có trách nhiệm trong quan hệ hợp tác đó. Về phần của các đối tác tiềm năng, trước tiên, họ được yêu cầu phải gia nhập Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và cam kết tuân thủ các quy tắc của khối ASEAN như: không can thiệp vào tình hình nội bộ của từng quốc gia, tôn trọng lẫn nhau về vấn đề chủ quyền và sự bình đẳng, từ bỏ sử dụng các biện pháp đe dọa hay dùng vũ lực. Các quốc gia đối tác cũng được yêu cầu phải xác định rõ những gì mà họ dự định sẽ đóng góp, trong quan hệ hợp tác giữa họ và tổ chức ASEAN, thông thường sẽ được đề ra trong các Kế hoạch Hành động.

Về phần của tổ chức ASEAN, việc mở rộng quan hệ đối ngoại có thể tạo ra những thách thức cả về thủ tục lẫn thực tiễn đối với các quốc gia thành viên cũng như Ban thư ký ASEAN ở Jakarta. Đầu tiên là yêu cầu về việc xây dựng sự đồng thuận – còn gọi là Phương thức ASEAN – với mỗi đối tác song phương chính thức, nhằm mục đích thừa nhận mối quan hệ. Mặc dù ASEAN đã có nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng sự đồng thuận ở một môi trường đa dạng về quan điểm và lợi ích, các đối tác ngoại giao mới có thể sẽ không thích ứng kịp với quy trình ra quyết định của tổ chức này. Một vấn đề cần quan tâm khác là làm thế nào để ASEAN có thể sắp xếp các buổi họp mặt, tham vấn, và các hoạt động khác với đối tác mới, khi mà tổ chức này hiện đang phải thực hiện hàng trăm buổi hội nghị giữa các quốc gia thành viên và với các đối tác hiện tại. Đó cũng là một trong số những lý do khiến ASEAN phải ra quyết định tạm hoãn kết nạp thêm Đối tác Đối thoại mới, trong suốt hai thập kỷ vừa qua. Đồng thời, khối ASEAN cũng muốn đảm bảo rằng, các quan hệ đối tác với các tổ chức bên ngoài không chỉ mang tính hình thức mà còn có thể được ứng dụng một cách hiệu quả vào các mục tiêu của tổ chức.

Hợp tác với thế giới

Hợp tác với nhiều quốc gia khác nhau, bất kể là lớn hay nhỏ, đã luôn là một dấu hiệu đặt trưng của tổ chức ASEAN trong suốt 50 năm tồn tại. ASEAN sẽ luôn chào đón bất kỳ quốc gia nào quan tâm đến việc thiết lập cầu nối với tổ chức thông qua các mối quan hệ Đối tác Đối thoại hay Đối tác Đối thoại khu vực, vì điều đó sẽ giúp công nhận rõ hơn tầm ảnh hưởng của ASEAN đối với các tiến trình toàn cầu. Với việc cộng đồng ASEAN ngày càng trở nên năng động và thịnh vượng, cũng đã đến lúc tổ chức này bắt đầu tìm kiếm những mối quan hệ chính thức không chỉ với các quốc gia đã phát triển mà còn với cả các nước đang phát triển.

Mặc dù vẫn tồn tại những quan ngại cả về vấn đề thủ tục lẫn thực tiễn, tổ chức ASEAN không nên vì thế mà ngưng theo đuổi việc mở rộng quan hệ ngoại giao với ngày càng nhiều tổ chức bên ngoài khác. Các thành viên trong khối ASEAN cần củng cố thêm Ban thư ký ASEAN của cả khối cũng như nâng cao năng lực của Ban thư ký ASEAN ở từng quốc gia, nhằm phối hợp và quản lý hiệu quả các quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng của tổ chức. ASEAN cũng không nên chỉ đánh giá độ thành công trong quan hệ với các đối tác bên ngoài thông qua các cuộc họp mặt cấp cao hay những bản tuyên ngôn, mà còn phải đánh giá dựa trên khả năng biến các quan hệ đó thành những kết quả hữu hình, có ích cho cộng đồng. Cuối cùng, tổ chức ASEAN cần phải tranh thủ các quan hệ đối ngoại này để thuyết phục các quốc gia khác cùng tuân thủ những định mức và nguyên tắc chung, hướng đến xây dựng một khu vực hòa nhập, mở cửa và tuân thủ pháp luật. Chủ trương quan hệ ngoại giao của khối ASEAN, cũng vì thế, không chỉ tập trung vào số lượng các đối tác dược thiết lập, mà còn chú trọng vào những gì mà các đối tác này sẽ đóng góp cho tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, và cho sự ổn định của khu vực cũng như toàn cầu.

Tác giả: Louie Dane C.Merced

Nguồn: Euasia review

Từ khóa: mở rộng, đối tác, đặc trưng, quan hệ đối ngoại, tổ chức, ASEAN

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789640
Go to top