CPTPP không có cam kết nào cụ thể liên quan trực tiếp tới các biện pháp SPS đối với thịt và các sản phẩm thịt, mà chỉ gồm các nguyên tắc liên quan tới SPS áp dụng chung cho tất cả sản phẩm.
Các qui định về qui tắc xuất xứ trong Hiệp định AANZFTA được cụ thể hóa trong Thông tư 31/2015/TT- BCT.
Tại Việt Nam và các nước ASEAN, doanh nghiệp nhận C/O bản giấy từ cơ quan cấp C/O và gửi bản giấy này cho người nhập khẩu trong AANZFTA.
Qui tắc xuất xứ của Hiệp định AIFTA đối với hàng hóa nói chung, trong đó của sản phẩm rau quả, được cụ thể hóa tại Thông tư 15/2010/TT-BCT.
Khi có CPTPP, việc thực thi suy đoán sẽ bị giám sát chặt chẽ hơn, các chủ thể kinh doanh ngành chăn nuôi, chế biến thịt sẽ phải chú ý hơn tới việc tuân thủ đầy đủ pháp luật về lao động.
AIFTA vẫn áp dụng qui trình cấp chứng nhận xuất xứ truyền thống, tức là cấp C/O thông qua một cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định.
Qui định mới trong FTA Việt Nam - EAEU tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình thông quan hàng hóa khi khác biệt về mẫu chữ kí không còn là nguyên nhân khiến C/O bị nghi ngờ tính xác thực.
Qui tắc xuất xứ đối với mặt hàng rau quả trong VKFTA gồm qui tắc chung và qui tắc cụ thể mặt hàng.
Hiệp định VKFTA cho phép miễn nộp giấy Chứng nhận Xuất xứ đối với các hàng hóa nhập khẩu có trị giá hải quan không quá 600 USD (trị giá FOB), hoặc một mức cao hơn nếu Nước nhập khẩu cho phép.
Qui định về cơ chế và thủ tục chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong CPTPP có nhiều điểm tiến bộ hơn so với các FTA mà Việt Nam đã kí kết trước đây.
Trang 76 trong 226 trang