
Mỹ không nên tham gia lại hiệp định thương mại tự do Thái Bình Dương cho đến khi nước này thu xếp ổn thỏa các vấn đề kinh tế trong nước.
Những người ủng hộ thương mại tự do và các nhà chiến lược vĩ đại nhận thấy Mỹ có cơ hội tái gia nhập Hiệp định thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sau cuộc bầu cử vào tháng 11, nhằm đưa đất nước trở lại đúng hướng, đồng thời tạo nên một bức tường thành kinh tế to lớn chống lại sự xâm lược của Trung Quốc.
Nhưng ý tưởng trên gặp quá nhiều thách thức: rào cản chính trị, mối bất hòa của Mỹ với các đồng minh và nền kinh tế trong nước đang bị mất cân bằng.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phát biểu với tổ chức The Economic Club of New York rằng:
“Chúng tôi sẽ đưa Mỹ trở thành siêu cường sản xuất của thế giới, chấm dứt sự phụ thuộc vào Trung Quốc một lần và mãi mãi…. Chúng tôi sẽ giữ mức thuế thấp đối với các công ty mang việc làm quay về Mỹ và sẽ áp đặt mức thuế cao đối với bất kỳ công ty nào rời đi. Các công ty muốn rời đi ư? Họ muốn sản xuất sản phẩm ở các nước khác và sau đó bán lại cho chúng tôi sau khi đã sa thải toàn bộ người lao động tại Mỹ? Sẽ không có chuyện đó đâu. Họ sẽ bị đánh thuế.”
Nhiều giám đốc điều hành và chuyên gia kinh tế có thể lo sợ bị đánh thuế, nhưng một số lượng lớn người Mỹ - có lẽ một phần lớn - đồng ý với quyết định của ông Trump. Điều này không phải là một vấn đề về ủng hộ đảng phái. Mối liên hệ giữa toàn cầu hóa và thất nghiệp đã trở thành một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết đối với cả đảng Dân chủ cũng như đảng Cộng hòa.
Ứng cử viên tổng thống Joe Biden đã gọi thuế quan là “công cụ đàm phán vĩ đại nhất trong lịch sử của đất nước chúng ta”. Nhưng nếu các cố vấn của Biden khuyến nghị nới lỏng với Trung Quốc để đạt được tiến bộ trong các cuộc đàm phán thương mại, thì các đảng viên Dân chủ tại Quốc hội có thể không đồng ý.
Thượng nghị sĩ Ron Wyden của Oregon, đảng viên Dân chủ cấp cao nhất trong Ủy ban Tài chính Thượng viện, tuyên bố:
“Tôi sẽ hợp tác chặt chẽ với chính quyền Biden để xem xét lại từng mức thuế, lần lượt từng cái một. Nhưng nếu quả thật có hành vi gian lận thương mại làm mất đi việc làm của công nhân Mỹ, chúng tôi sẽ sử dụng mọi công cụ có thể, kể cả thuế quan.”
Rõ ràng, có sự ủng hộ của lưỡng đảng đối với việc sử dụng thuế quan chống lại Trung Quốc - hoặc bất kỳ quốc gia nào khác được cho là đang áp dụng âm mưu theo thuyết trọng thương để cướp đi việc làm của người Mỹ.
Vấn đề đối với TPP là, sản xuất đã và đang chuyển đi ra khỏi Trung Quốc, nhưng không phải sang Mỹ, mà đến các nước Đông Nam Á. Ở các nước này, mức lương thấp hơn và phần lớn cơ sở hạ tầng công nghiệp đã có sẵn nhờ vào đầu tư hàng thập kỷ qua của Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu và Mỹ.
Các công ty Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Trung Quốc đã chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Đông Nam Á để đối phó với việc gia tăng chính sách tiền lương của Trung Quốc. Các công ty Nhật Bản cũng đã chuyển đi do các cuộc bạo động chống Nhật ở Trung Quốc. Năm 2019, Samsung ngừng lắp ráp điện thoại di động tại Trung Quốc. Hiện nay, hầu hết điện thoại di động của hãng được sản xuất tại Việt Nam.
Hơn nữa, xu hướng dịch chuyển này đã được đẩy nhanh khi các mức thuế của Mỹ áp lên các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc và tác động của dịch Covid-19; điều này cũng chỉ ra sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc về nguồn cung cấp trang thiết bị y tế và cần phải đa dạng hóa các chuỗi cung ứng.
Việc Việt Nam ngày càng nổi lên như một căn cứ xuất khẩu mới đã khiến thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ tăng khoảng 50% kể từ khi Trump nhậm chức; giá trị này tăng từ 38 tỷ USD lên hơn 55 tỷ USD.
Thực tế này đã khiến Mỹ kích hoạt một cuộc điều tra về khả năng thao túng tiền tệ cũng như các chính sách và thông lệ khác của Việt Nam mà Đại diện Thương mại Mỹ thấy có vấn đề.
Điều này trái ngược với chiến lược “tách rời khỏi Trung Quốc”, nhưng lại giáng một đòn mạnh vào một thành viên của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương mà Trump tố cáo là “giết chết việc làm”.
Cho dù chính quyền Biden có thể sẽ nhẹ tay hơn với Việt Nam, nhưng cử tri Mỹ sẽ không chịu để yên vì thặng dư thương mại của Việt Nam đã tăng 50%, ngay cả khi thặng dư của Trung Quốc đang giảm.
Tuy nhiên, giá trị thặng dư của Trung Quốc không giảm quá nhiều. Theo số liệu báo cáo của chính phủ Trung Quốc, trong 9 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ đã tăng 1,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi nhập khẩu từ Mỹ tăng 2,8%. Thặng dư thương mại của Trung Quốc với Mỹ trong 9 tháng qua là gần 220 tỷ USD.
Chỉ tính riêng trong tháng 9, tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc tăng 13,2% so với cùng kỳ năm ngoái, và xuất khẩu tăng 9,9% - một minh chứng ấn tượng về sự phục hồi của Trung Quốc sau đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, con số này sẽ chỉ làm tăng thêm khả năng Mỹ áp lệnh trừng phạt kinh tế Trung Quốc.
Theo dữ liệu từ Bộ Thương mại Mỹ, vào tháng 7 năm nay, Mỹ đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại hàng tháng lớn nhất trong 12 năm.
Vậy điều này khiến chính sách của Mỹ đối với TPP đi đến đâu?
Wendy Cutler- phó chủ tịch của Viện Chính sách Xã hội Châu Á (ASPI), đã đề cập đến chủ đề này trong một báo cáo mang tên “Tái thiết lập Châu Á - Thái Bình Dương về Thương mại: Lộ trình TPP cho Chính quyền Tiếp theo của Mỹ,” được ASPI công bố vào cuối tháng 9.
Bà Cutler là một nhà ngoại giao và đàm phán thương mại giàu kinh nghiệm, từng là Phó Đại diện thương mại Mỹ- chịu trách nhiệm về hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Hàn (Korus).
Sau khi tuyên bố rằng “trường hợp việc Mỹ tham gia TPP chỉ trở nên thuyết phục hơn khi tầm quan trọng về chính trị và kinh tế của khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng tăng và mối quan tâm về mô hình kinh tế của Bắc Kinh ngày càng gia tăng”, bà đặt câu hỏi:
“Nhưng liệu có con đường nào để Mỹ quay trở lại TPP hoặc tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), mà 11 nước còn lại đã hoàn tất mà không có Mỹ?”
Điều đáng lưu ý là các bên tham gia đàm phán TPP và các thành viên hiện tại của CPTPP hoan nghênh sự trở lại của Mỹ, nếu các nhà đàm phán Mỹ không yêu cầu sửa đổi sâu rộng hiệp định, bà khuyến nghị như sau:
- Đầu tiên, hãy bắt đầu từ quy mô nhỏ, với “một thỏa thuận thương mại châu Á - Thái Bình Dương phạm vi hẹp, theo từng lĩnh vực cụ thể với các thành viên CPTPP và có thể là các quốc gia khác, để đặt ra các tiêu chuẩn cao, xây dựng lại lòng tin và tạo động lực”.
- Theo đuổi các chủ đề mới, có tính cấp thiết như thương mại kỹ thuật số, thương mại trong lĩnh vực y tế và các sản phẩm thiết yếu khác, và mối quan hệ giữa thương mại và môi trường.
- Mỹ nên tập trung vào việc cải thiện năng lực cạnh tranh của mình và cải cách trong nước để các hiệp định thương mại chỉ đơn thuần là về kinh tế, không chịu những sức ép chính trị nhằm đạt được các mục tiêu mà chúng không được thiết kế để giải quyết, chẳng hạn như đảm bảo công bằng hơn trong phân phối thu nhập.
- Dựa trên ý kiến đóng góp từ các nhóm doanh nghiệp, lao động và xã hội dân sự trong cả nước, cũng như Quốc hội Mỹ để xây dựng nên các mục tiêu ưu tiên cụ thể cho kế hoạch tái gia nhập CPTPP.
- “Tham khảo ý kiến của các thành viên CPTPP để hiểu các giới hạn, ưu tiên và mối quan tâm của họ đối với việc tái gia nhập của Mỹ.”
Hai điểm cuối cùng có vẻ không cần thiết phải đề cập đến, nhưng nếu chúng được thực hiện, thì thỏa thuận TPP ban đầu có thể đã không bị phá bỏ và các bên còn lại của hiệp định có thể sẽ không quá cảnh giác với các chiến thuật gây sức ép và sự thiếu tin cậy của Mỹ.
Một hiệp định đa phương về thương mại kỹ thuật số vừa mang tính quan trọng nhất vì phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế, vừa có nhiều khả năng thành công nhất, vì đã đạt được nhiều tiến bộ tính đến nay.
Hiệp định song phương về thương mại Kỹ thuật số giữa Nhật Bản-Mỹ được ký kết vào tháng 10 năm 2019. Các nước Singapore, New Zealand và Chile đã ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Kỹ thuật số (DEPA) vào tháng 1 năm ngoái. Hiệp định Kinh tế Kỹ thuật số Singapore-Australia (SADEA) đã được ký kết vào tháng 8. Hàn Quốc – Singapore đã khởi động các cuộc đàm phán từ tháng 6 để xúc tiến Hiệp định Đối tác Kỹ thuật số Hàn Quốc-Singapore (KSDPA).
Theo thông tin mà Đại diện Thương Mại Hoa Kỳ (USTR) cung cấp, Hiệp định Thương mại Kỹ thuật số Mỹ-Nhật Bản gồm các cam kết chính sau:
- Cấm áp dụng thuế quan đối với các sản phẩm kỹ thuật số được phân phối dưới dạng điện tử, chẳng hạn như sách điện tử, video, nhạc, phần mềm và trò chơi.
- Đảm bảo không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm kỹ thuật số, bao gồm cả việc áp dụng các biện pháp thuế quan.
- Đảm bảo rằng dữ liệu có thể được chuyển qua biên giới, bởi tất cả các nhà cung cấp, bao gồm cả các nhà cung cấp dịch vụ tài chính.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch kỹ thuật số bằng cách cho phép sử dụng xác thực điện tử và chữ ký điện tử, đồng thời bảo vệ thông tin bí mật của người tiêu dùng và doanh nghiệp, và đảm bảo rằng các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng có hiệu lực được áp dụng cho thương mại điện tử.
- Bảo vệ chống lại việc buộc tiết lộ mã nguồn và thuật toán máy tính độc quyền.
Các điều khoản trên không gây bất lợi cho Mỹ và có khả năng tạo ra việc làm, hơn là loại bỏ việc làm. Những cam kết này cũng có tầm quan trọng chiến lược hơn so với các cam kết về thuế quan đối với các sản phẩm sữa và thịt bò, vốn là những điểm mấu chốt trong các cuộc đàm phán TPP.
Liên quan đến thương mại hàng hoá công nghiệp, ông Joe Biden đã tuyên bố rằng ông sẽ “không tham gia bất kỳ hiệp định thương mại mới nào cho đến khi chúng tôi đầu tư vào người Mỹ và trang bị cho họ để họ phát triển thành công trong nền kinh tế toàn cầu.”
Nhiều nhà kinh tế cho rằng quan điểm của Biden là hợp lý. Họ cho rằng thâm hụt thương mại không quan trọng và không ai thắng trong cuộc chiến thương mại, nhưng hãy đặt câu hỏi: Tại sao Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc và Trung Quốc lại có thặng dư thương mại với Mỹ nhiều như vậy?
a. Bởi vì họ không hiểu gì về kinh tế học?
b. Bởi vì các nhà lãnh đạo tham nhũng của họ từ chối tự do kinh tế?
c. Bởi vì thặng dư thương mại mang lại cho họ lợi ích to lớn?
Rõ ràng, câu trả lời là c.
Một vài thập kỷ trước, những quốc gia này còn nghèo. Bây giờ họ là những quốc gia phát triển, giàu có và đã vượt qua Mỹ trong nhiều ngành công nghiệp. Thặng dư thương mại của họ được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa làm việc chăm chỉ, tận tâm với giáo dục, đầu tư bền vững, chủ nghĩa bảo hộ và chính sách công nghiệp, trong thời gian đầu, sự thành công của họ được hỗ trợ bởi mức lương tương đối thấp nhưng ngày nay họ không cần nữa.
Thặng dư thương mại tạo điều kiện cho việc xây dựng chiến lược kinh tế quy mô, làm tăng lợi nhuận và dòng tiền, mà sau đó sẽ được tái đầu tư để làm cho ngành công nghiệp cạnh tranh hơn.
Ngược lại, thâm hụt thương mại dai dẳng sẽ dẫn đến sự suy giảm của ngành công nghiệp và làm mai một kỹ năng. Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới, Mỹ xuất siêu lần cuối vào năm 1975.
Do đó, thừa nhận các giới hạn của thương mại tự do chỉ là lẽ thường cần thực hiện.
Các bài báo trước đây của Asia Times đã mô tả cách các quốc gia đạt được khả năng cạnh tranh thông qua việc chuyển hướng từ thương mại tự do sang chủ nghĩa bảo hộ, vì điều này giúp họ có nhiều lợi thế hơn. Anh, Mỹ và Trung Quốc đều đã đi theo con đường này.
Tương tư, một quốc gia bị mất khả năng cạnh tranh do khi mở cửa thương mại cho các đối thủ theo chủ nghĩa trọng thương, cũng đã chọn rút lui khỏi con đường thương mại tự do để không mất tất cả. Trong trường hợp này, chính sách kinh tế và hiệu quả nhất là áp dụng thuế quan, đơn giản là để thay đổi tín hiệu giá cả.
Đối mặt với quá trình phi công nghiệp hóa, sự thiếu hụt các việc làm lương cao, bất bình đẳng sâu rộng và các vấn đề xã hội nghiêm trọng bắt nguồn từ nghèo đói và bất ổn kinh tế, hệ thống chính trị bị chỉ trích của Mỹ đang nhận ra một điều đúng đắn: Đã đến lúc cần có các giải pháp thực tế, thay vì những lời hùng biện.
Mỹ không nên cố gắng tham gia lại TPP cho đến khi giải quyết được các vấn đề của riêng mình.
Nguồn: Asia Times
Từ khóa: Mỹ, không trở lại, TPP






















